Viêm phổi tràn dịch

 


Bác Sĩ Ðặng Trần Hào


 


LTS. Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng Ðông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại: (714) 531-8229 hoặc email: danghao@sbcglobal. net.


 


Phế chủ khí, là cơ phận trọng yếu để duy trì sự sống. Khí được tạo bởi hai nguồn; một là khí ở trời do phế hít vào; hai là tinh khí trong đồ ăn uống vào dạ dầy được phối hợp với tỳ và chuyển hóa thành hai phần khí.


 Phần thanh khí chuyển lên phổi để đưa vào tim đi nuôi cơ thể. Phần trọc khí đưa xuống ruột non, ruột già thanh lọc một lần nữa, phần thanh đưa lên phế và phần trọc đưa xuống ruột già và bàng quang thải ra ngoài. Hai khí này kết hợp lại chứa ở lồng ngực gọi là “tôn khí.” Tôn khí là nguồn gốc của khí trong toàn thân có nhiệm vụ trao đổi hít thở, dồn về tâm và đưa vào kinh mạch đi nuôi cơ thể.


Tâm chủ về huyết và phế chủ về khí. Cơ thể nhờ sự vận hành tuần hoàn của khí huyết để vận hành chất dinh dưỡng, duy trì hoạt động cơ năng hoạt động nhịp nhàng giữa các tạng phủ. Tâm với phế, huyết với khí nương tựa nhau tạo nên sự làm việc chặt chẽ và nhịp nhàng trong thân thể của chúng ta.


Phế còn thông điều thủy đạo, và túc giáng: Nếu phế mất khả năng túc giáng sự thay đổi cũ mới của thủy dịch sẽ gây ra trở ngại. Thủy dịch sẽ dồn lại, tiểu tiện sẽ không thông, lâu ngày sẽ sinh ra phù thũng. Phế chủ về khí, cho nên lỗ chân lông cũng gọi là “khí môn.” Người bệnh phế khí hư có thể gây ra suyễn và da lông cũng thường bị hư yếu, hay ra mồ hôi còn dễ bị cảm khi thời tiết đổi từ nóng sang lạnh, hay đổi từ Thu sang Ðông là như vậy.


Một khi phế suy, cũng thường gây hội chứng viêm tràn dịch phổi rất phổ biến trong lâm sàng. Ở đây chất dịch tràn vào trong khoang màng phổi.


Chất dịch đó do viêm nhiễm tiết ra, hoặc do một nơi khác tràn vào. Có thể là thanh dịch, mủ, máu hay dưỡng trấp. Nhưng bất cứ chất dịch đó là gì, khi truy tầm, ta sẽ thấy:


-Bệnh nhân khó thở, nằm nghiêng về bên đau, lồng ngực khi thở ít thấy di động.


-Bên ngực có tràn dịch phồng to hơn.


-Xương ức bị đẩy về bên lành (1-3 cm khi khối lượng tràn dịch độ 1-3 lít).


– Gõ có khi đục như gỗ. Nếu khối lượng tràn dịch trung bình phần dưới đục, phần trên quá trong vì thở bù. Ðường giới hạn của phần đục là một đường parabol.


-Nghe tiếng rì rào phế nang giảm hoặc mất, nghe như tiếng dế kêu (khi bảo bệnh nhân nói).


Tóm lại, trong hội chứng tràn dịch có dấu hiệu ba giảm:


* Rung thanh giảm hoặc mất.


* Tiếng trong giảm (đục).


* Rì rào phế nang giảm.


Ba dấu hiệu này càng rõ nếu tràn dịch càng nhiều. Ðứng trước một bệnh nhân có triệu chứng trên, người thầy thuốc phải nghĩ ngay đến tràn dịch màng phổi.


Trường hợp tràn dịch màng phổi thường xẩy cho những bệnh nhân bị những bệnh kinh niên khác như: tai biến mạch máu não, bệnh tim mạch, bệnh ung thư, v.v… hoặc phải nằm nhiều ngày trên giường bệnh mà gây ra.


Theo y khoa Ðông phương, nằm nhiều trệ khí và nhất là trong khi chữa trị các bệnh khác, ảnh hưởng tới thận, đưa tới thận khí suy. Một khi thận khí suy, ảnh hưởng tới phế khí suy gây bệnh tràn dịch màng phổi, viêm phổi (pneumonia).


Trong bệnh viện thường cho uống trụ sinh và lấy nước trong màng phổi ra. Tuy nhiên nhiều trường hợp vì bệnh nhân không thể ngồi hay đứng dậy di chuyển được, bị đi bị lại, rồi gây ra đàm nhiều làm trở ngại đường hô hấp, hoặc trụ sinh không còn hiệu quả mà gây ra tử vong hơi cao là như vậy.


Trong trường hợp này nếu bệnh nhân bị lờn với trụ sinh không còn phương cứu chữa. Y khoa Ðông phương có thể giúp bệnh nhân trong trường hợp này bằng cách: Lý phế, thanh nhiệt, lợi khí, khu đàm.


 


Bài thuốc


Sài hồ 15 grs


Huyền sâm 12 grs


Bán hạ chế 15 grs


Qua lâu nhân 25 grs


Chỉ xác 15 grs


Trần bì 15 grs


Tang bạch bì 15 grs


Bạch giới tử 15 grs


Hoàng kỳ 12 grs


Sâm hoa Kỳ 12 grs


Mạch môn đông 12 grs


Thiên môn đông 12 grs


Quế bì 9 grs


Trạch tả 12 grs


Cam thảo 6 grs


Tác dụng:


-Bán hạ chế, bạch giới tử, mạch môn đông, thiên môn đông: Bổ phế, khu đàm.


-Hoàng kỳ, sâm hoa kỳ, quế bì: Bổ thận khí và phế khí.


-Qua lâu nhân: Thanh phế nhiệt.


-Chỉ sác, sài hồ: Tản khí, giảm đau vùng ngực và sườn.


-Huyền sâm; Kháng sinh, trị viêm nhiễm, an tâm.


-Trạch tả: Trục nước trong phổi.


-Cam thảo: Bổ khí và phối hợp các vị thuốc.


 


Ðể ngăn ngừa bị viêm tràn dịch trong phổi, chúng ta nên tập thể dục và hít thở càng nhiều càng tốt, không nên nằm nhiều sẽ gây ra trệ khí và đàm nhiều trong phổi. Nếu bị bệnh còn đi lại được, thì cố đứng dậy đi lại khoảng 15 phút mỗi ngày và ngồi nhiều thay vì nằm. Hy vọng sẽ tránh được viêm phổi tràn dịch gây đến nguy hiểm tới tính mạng một khi bị lờn trụ sinh. Có thể dùng thuốc Ðông y trong trường hợp này rất là hiệu nghiệm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT