Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah
Cách đây mấy năm, có một vị chủ báo ở tận miền Ðông Hoa Kỳ, điện thoại hỏi thăm tôi vài chuyện, vì biết tôi thực sự quen biết với mấy nhân vật, mà cuộc đời của các nhân vật ấy, có đôi chút mơ hồ, để vô tình đi vào huyền thoại, khiến tha nhân cũng mặc nhiên… công nhận tính cách kỷ niệm phong phú, bâng khuâng… bởi nhà văn, nhà thơ tên tuổi, là người của đại chúng, tha nhân mến mộ ai thì tìm hiểu vậy thôi.
Ðiện thoại rằng:
Tôi biết bà quen với gia đình hai nhà thơ Ðinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, vậy bà có nghe câu: “Tố của Hoàng ơi, Tố của ai?” Thế thì Tố là ai. Theo thơ Vũ Hoàng Chương kể chuyện đó đã lâu lắm rồi, nhưng tôi (vị chủ báo) vừa nhận được bài viết của một nhà văn Saigon trước 1975, nói là Tố đó di cư vào Nam năm 1954, và ngụ tại cư xá Bắc Hải, có nên đăng không?
-Bạn (vị chủ báo là phụ nữ) đăng hay không là quyền của bạn, còn tôi thì chỉ biết như vầy, cứ mỗi năm đến ngày 12 tháng 6 dương lịch, tôi thường đùa chị Thục Oanh, phu nhân thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cũng đã quá cố ít năm nay, rằng: “Tố của Hoàng Ai” đâu rồi?
Cụ bà Vũ, lúc tôi trò chuyện, khoảng thời gian vài ba chục năm trước, nếu còn tại thế là đã quanh số trên, dưới 90, trẻ hơn cũng không thể nhỏ ngang cố thi sĩ Ðinh Hùng, vì thi sĩ Ðinh Hùng sinh năm 1920, năm nay ở tuổi 91 ông đã mất gần nửa thế kỷ nay, lại là em của cụ Thục Oanh.
-Tố bây giờ cũng thành cụ rồi, có liên lạc đâu mà biết, xưa lắm rồi, ông ấy thích làm thơ thì cứ làm, ông (thi sĩ Vũ Hoàng Chương) còn có bài ca tụng con bé đầm ở bên Tây, hồi đi họp Văn Bút trước 1975 nữa cơ mà, ôi dào, thơ thì cứ Thơ, Ðời thì cứ đời, dính dáng gì mà sợ.
-Sợ gì đâu, em hỏi cho biết thôi mà.
Mới đây, cụ thi sĩ Hà Thượng Nhân cũng mới mãn phần ở tuổi 91 trên cao nguyên San Jose, trời Thu muộn màng, ẩm ướt hơi sương, các văn nghệ sĩ thường tới, lui hiên thơ giá rét, lại có dịp làm thơ tán thán, tình tiết kỷ niệm nhớ nhung, lại được phô bày trên báo giấy, báo mạng, gia đình thì đã chu toàn lễ nghĩa tang ma, còn lại bạn thơ với mây bay, gió thổi, bâng khuâng. Nhà thơ Hà Huyền Chi từ tiểu bang Tây Bắc Hoa Kỳ trong bài phúng điếu thi lão Hà Thượng Nhân, với tất cả tấm lòng của Nhà Thơ đối với Nhà Thơ:
“Thơ không nuôi nổi nhà thơ
…
Nhà thơ về với hư không
Còn trên mặt báo vài dòng tiếc thương”
[Hà Huyền Chi]
Vâng, quả là vậy, nếu chỉ sống với Thơ thôi thì không biết làm sao… tồn tại được, vì thơ không nuôi nổi nhà thơ, nếu ở Hoa Kỳ không có các khoản tiền đãi ngộ tuổi già, bịnh và v.v… khác, thì chẳng biết có quý vị nào Vịn Thơ mà đứng dậy nổi, nhưng lạ quá chẳng những quý vị làm Thơ, đã đúng là Vịn Thơ đứng dậy, rồi còn khoác áo tâm tư tình cảm cho Thơ mình, thơ người để làm nên huyền thoại, chúng ta, loài người, khác muôn loài khác, là đã sống cho ta, mà còn sống cho người nữa.
Sau khi cụ thi sĩ Hà Thượng Nhân mơ màng về cõi vĩnh hằng thực sự rồi, những tay thơ của bốn phương hồ hải thi sĩ khác đang còn hiện diện ở Chốn Bụi Hồng này, nhìn nhau buồn bã, đếm gió, đếm mây, 91 lần khuê phòng tuyết giá, một vị lão thành lặng lẽ ngồi vào ghế điện toán, biên thảo đôi dòng nhắn gửi người thơ thuở trăng tròn của thi sĩ mới quá vãng Hà Thượng Nhân, không dám gọi Nàng Thơ, vì nàng thơ ấy cũng đã lên cụ cửu thập. Người thơ trăng tròn xưa là một bậc nữ lưu danh gia vọng tộc song tiểu thư sinh thơ ca nên đã ghép tên thật của nữ sĩ Hoàng Bích Dư, cùng tên thật của cố thi sĩ Hà Thượng Nhân là Hoàng Sĩ Trinh thành đôi thi khách Song Hoàng (vì cùng họ Hoàng), đồng thời tiểu thư con quan triều Huế còn ký vài bút hiệu khác như Bích Hoàng, Tương Ðàm.
Chỉ 24 giờ đồng hồ sau, nữ sĩ Tương Ðàm hay Bích Hoàng đã nhờ lưới điện chuyển qua vị lão thành (cũng là thi sĩ Ðường Thi) nêu trên, bài thơ phân ưu trước tin thi lão Hà Thượng Nhân từ biệt bạn thơ gần, xa khắp cõi.
Bài thơ phân ưu thi sĩ Hà Thượng Nhân của nữ sĩ Hoàng Bích Dư tức Bích Hoàng, Tương Ðàm, hiện nay được quý vị văn nhân, thi sĩ ở San Jose hết sức ngợi ca với hai lý do xác đáng:
Thứ nhất là một bài thơ chia buồn ý tình trọn vẹn nhất, ngôn từ đầy đủ tính chất lễ nghĩa, tình thơ không quá đà lãng mạn, xưng hô không lệch lạc nhân cách, mà vì cả hai cụ thi sĩ kẻ ở, người đi đều đã tròn vẹn tình cảm, gia đạo, địa vị xã hội v.v… mặc dầu kỷ niệm xưa vẫn trân quý.
Thứ hai là một mối tình thơ có chiều dài năm tháng, đậm đà, mà không dẫn tới điều tắc trách, xem như mối tình thế kỷ.
Tôi vốn hoàn toàn i tờ về máy điện toán, chẳng biết cái mạng lưới điện nó mang hình thức, nội dung thế nào. Ðược bạn hữu thân tình in từ net ra những bài bản cảm thấy không thể thiếu, tất nhiên là những tuyệt phẩm kiểu Hai Sắc Hoa Ti Gôn của TTKH, nay thơ cũ Tiếng Khóc Ðêm Tân Hôn của Tương Ðàm Nữ Sĩ viết năm 1943, và bài thơ phân ưu thi sĩ Hà Thượng Nhân quá cố 11 tháng 10, 2011 của bà thật… tuyệt tác. “Tiếng Khóc Ðêm Tân Hôn” là 10 bài thơ thất ngôn bất cú, nữ sĩ Tương Ðàm viết gởi nhà thơ Hà Thượng Nhân từ thời tiền chiến (1943), thời điểm của khá nhiều huyền thoại Hà Thành Thanh Lịch xa xưa, nào là Trống Mái, Tuyết Hồng Lệ Sử v.v… nếu như Trống Mái cho là chuyện hư cấu diễn tả thiếu nữ thành thị, cứ nhất định thích anh chàng ở làng chài ven biển khơi, chỉ vì anh ta to lớn, vạm vỡ, như thần trùng bão táp, thì Tuyết Hồng Lệ Sử lại là chuyện thật.
Tiểu thư Hà Nội Tuyết Hồng chính là chị gái thứ hai của nữ sĩ Thục Oanh, phu nhân thi sĩ Vũ Hoàng Chương, tức là chị nhà thơ Ðinh Hùng, được cụ cố họ Ðinh đã từng làm tham sứ ngoại giao Việt Nam đầu thế kỷ 20 ở Philippines, cho nên tờ khai sinh của nữ sĩ Ðinh Thục Oanh ghi nơi sinh là Philippines, thế thì Ðinh lão bá quyết định gả tiểu thư Tuyết Hồng cho bậc nam nhi trẻ tuổi, tuấn tú Võ An Ðạm (em cụ Võ Anh Ninh), thật môn đăng hộ đối. Nhưng ngày hôm sau đám cưới, cô dâu Tuyết Hồng sẽ về với chú rể Võ An Ðạm, thì ngày trước, tiểu thư Tuyết Hồng đã gieo mình xuống Hồ Tây, thiên tình sử đầy lệ này, tôi vẫn nghĩ là cũng ở trong bảng phong thần dân gian ngoài Bắc.
Nào ngờ, đầu năm 1984, chị Thục Oanh rủ tôi từ Úc Viên theo đường Nguyễn Minh Chiếu tới nhà cụ Võ An Ðạm, vốn cũng là một nam tài tử không chuyên thời trước 1975 ở Saigon, sau khi thăm viếng, hai chị em ra về, chị tâm sự với tôi: Lẽ ra bà Tuyết Hồng là chị của mình, làm vợ ông ấy (Võ An Ðạm) đấy, nhưng bà Tuyết Hồng tự trầm ở Hồ Tây, tạo nên câu chuyện Tuyết Hồng Lệ Sử, Cao Mỵ Nhân có nghe không?
-Có chứ ai mà ngờ thế, còn cụ bà Võ An Ðạm bây giờ thế nào?
-Thì mình vẫn tới lui thăm hỏi, sắp đi xuất ngoại rồi, ông bà ấy tử tế lắm.
Rồi thời gian rất ngắn sau, chỉ còn vài ngày nữa hai cụ Võ An Ðạm sẽ lên đường đi Mỹ hay Canada, tôi không nhớ, thì một buổi trưa mùa hạ năm đó, cụ Võ An Ðạm đã ngủ quên không dậy nữa, cụ bà phải vô nhà thương, và thân nhân tạm giấu chuyện cụ Võ mất, sau vẫn tiễn cụ bà ra sân bay xuất ngoại, đồng thời vẫn quàn cụ Võ An Ðạm ở chùa Ðại Giác, rồi một người cháu họ lo tang ma cho cụ.
Những thư mục Tiếng Khóc Ðêm Tân Hôn, Tuyết Hồng Lệ Sử v.v… là những tình tiết truyện, kiểu: Áo Người Trinh Nữ, Ðám Cưới Ma v.v… thực đấy mà hư cũng đấy. Chuyện đời đơn giản đã chẳng giản đơn, thì chuyện Thơ Tình Thơ lại càng huyền hoặc. Nếu cuộc đời, không có huyền thoại thì văn chương giảm đi phần nào ý nghĩa phong phú, thơ ca giảm đi nhiều mơ mộng, mỹ miều.



























































































