Sớ Táo Quân, và thơ nói


Viên Linh


 


Thứ Năm, 24 Tháng Giêng năm nay là ngày cận kề với 23 Tháng Chạp âm lịch, theo tục lệ ta, là ngày ông Công ông Táo lên chầu trời. Nhiều tranh vẽ dân gian cho thấy phương tiện của ông là một con cá chép, gọi là ngựa cá. Thi sĩ Tản Ðà từng làm bài thơ nhan đề “Tiễn ông Công lên chầu Trời,” có những câu như sau:










Một bức tranh biếm họa của Chóe, một thân phận bị khóa miệng.

 


Hăm ba tháng chạp tiễn ông Công


Thường tục từ xưa có phải không?


Chẳng biết hoàn cầu đâu cũng thế,


Hay chỉ người Nam tục lệ chung?


Cùng trong đất nước xin theo chúng


Gọi có hương vàng cúng tiễn ông


Ngựa cá ông lên chầu Thượng đế


Trần gian xin nhớ có tôi cùng.


 


Ông Công hay ông Táo là nói cho gọn, nói dài hơn phải là vợ chồng ông Táo. Nói thế cũng chưa thật rõ, vì ông Táo là ba trụ đất người ta dùng để đặt nồi niêu xoong chảo lên đó để nấu nướng ở trong bếp, tức Vua Bếp, gồm có hai ông một bà. Thế thì từ đâu mà do đâu lại có một thứ “gia sự ba người” như thế?


Theo Việt Nam Tự Ðiển, thì “ngày xưa…” vâng, cái gì cũng tại ngày xưa cả, có “người đàn bà kia, vì không vừa ý chồng, bỏ nhà đi lấy chồng khác. Người chồng cũ một hôm lẩn thẩn, đi tìm gặp vợ để than thở sự này việc khác, không biết để làm gì. Bỗng người chồng hiện tại, vốn là một thợ săn, săn được một con thịt mang về. Chị vợ hốt hoảng, nghĩ mình tình ngay mà lý gian, tốt nhất là giấu ông chồng cũ vào một đống rơm ở xó bếp. Anh thợ săn đang đói, ném ngay con thú vừa săn được vào đống rơm, nổi lửa thiêu con vật, khiến ông chồng cũ bị thiêu chết. Ðau lòng khi thấy người chồng cũ sắp chết cháy, chị vợ lao vào lửa, không biết để cứu chồng cũ hay để chết theo. Mà chết theo thật. Ông chồng mới, trước cảnh vợ mình quằn quại trong lửa, lao vào lửa cứu nàng. Thế là cả ba cùng chết cháy. Trên trời, cũng may mà có trời, Ngọc Hoàng Thượng Ðể thương cảm cho cả ba người, bèn phong cho cả ba là Vua Bếp, tức là ngài chính thức cho họ được sống chung ở bên kia cõi trần. Từ đó, họ cảm ơn Thượng Ðế khoan dung độ lượng, hàng năm cứ vào 23 Tháng Chạp, lại cùng nhau bay lên trời tạ ơn, nhân thể tâu cùng ngài sự việc trong ngôi nhà họ đang sống, tờ giấy tâu bày đó gọi là Sớ, từ đó ta có Sớ Táo Quân.


Trước khi nói về Sớ Táo Quân ra sao, viết như thế nào và phải nói những gì, mời bạn đọc xem qua vài bản sớ táo quân điển hình, đặng rút kinh nghiệm. Nếu ở trong nước, báo Xuân không thể không có Sớ Táo Quân, vì đó là mục “Tường trình hàng năm” qua hình thức hài hước thông dụng nhất của “ông Táo” của mỗi tờ báo. Ra hải ngoại, mục Sớ Táo Quân vẫn còn thông dụng, nhưng chỉ trong mấy năm đầu, rồi càng ngày phong tục càng giảm, tìm được một bài Sớ rất khó, và nếu có, cũng hiếm có Sớ hay. Ðây là đoạn vào đầu của Sớ Táo Quân Lửa Việt, năm Bính Thìn (1976) tờ tạp chí do Viên Linh thực hiện cho Trung tâm Phối hợp Ðịnh cư Việt kiều tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn (của Nguyễn Ngọc Bích):


 


Sớ Táo Quân Lưu Vong


Muôn tâu Thượng đế


Thần chức Táo quân


Coi sóc nhân dân


Miền Nam nước Việt.


 


Gặp năm “mèo chết” (1975)


Loạn đả xà ngầu


Tai họa đâu đâu


Bổ đầu dân chúng.


 


Thần đâm lúng túng


Chạy khắp mọi nơi


Vắt cẳng lên trời


Tìm đường tẩu thoát.


(Xuân Lửa Việt, 1976)


 


Lá sớ này có giá trị đặc biệt là tả lại cho Thượng đế rõ tình cảnh di tản của dân Việt ra sao, kẻ leo trực thăng trên nóc tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, kẻ “lênh đênh mặt biển,” và những chuyện khác ở trạm tạm cư hay chuyện “Di cư bảo trợ, Ai nợ chi ai, v.v… Một tờ báo Xuân khác, là tờ Nhân Bản của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở Paris ra vào năm 1981 (Tân Dậu), cũng may thay có một bài Sớ Táo Quân, ký tên Táo Tổng Hội.


 


Muôn tâu Thánh thượng


Dập đầu dưới trướng


Thần Táo Nước Nam


Lật đật chẳng kham


Ðạp xe đạp ngựa


Kịp ngày kịp bữa


Lặn lội về chầu


Quí mọp trình tâu


Tung hô vạn tuế!


 


Bao chuyện sôi bỏng


Như chuyện dân ta


Bỏ cửa bỏ nhà


Liều thân vượt biển


Không ngại nguy biến


Chẳng quản chông gai


Ðau khổ ngập đầu


Còn thêm hải tặc



Lá sớ nào cũng dài, bởi một năm mới có một bài, Táo nào cũng đầy chuyện để tâu lên, và để chửi xuống. Về phần kỹ thuật, Sớ Táo Quân thường là thơ, là văn vần, bốn chữ, là thể thơ dễ làm mà không cần văn chương bóng bẩy, vần điệu không bó buộc, lúc thì chọn vần ở chữ thứ hai của câu, lúc thì ở chữ cuối cùng, đọc lên nghe vanh vách, vì nhịp điệu nhanh, vì là văn nói, văn tâu.


Ðể kết thúc bài này, đây là mấy câu người viết bài này nhòm trộm từ Lá Sớ của Táo Quân Người Việt, lõm bõm không rõ đúng sai, nên không bảo đảm sai đúng:


 


Muôn tâu Dear God


Thần nhột khắp mình


Chỉ dám tâu nhanh


Rằng thần chậm lụt


Sang năm sẽ good


Sẽ lại tâu thêm


Chữ nghĩa kiêng khem


Nói thêm xấu hổ.


Thần xin sang số


Ðể kịp u tơn


Good by Thượng đế.


(Chép lại vội vàng ngày Táo thượng lộ, 23 tháng 1, 2013)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT