“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 69
CHƯƠNG III
PHONG TRÀO TAM PHẢN KHÓA BẢY
I
Hiển trở về Phụng Minh Thôn đúng hôm nơi này tràn ngập làn gió nhẹ từ Ðông Nam thổi tới, làn gió như có mang lại những hương thơm của đất nước. Trong khi chờ đợi quyết định của thiếu tướng chính ủy chỉ huy trường lục quân Hiển được mấy ngày rảnh để quan sát Phụng Minh Thôn. Chàng đã băng qua khu rừng thông phía Tây, có những con sóc đuôi xòe như bông lau từ trên cao nhìn xuống với đôi mắt đen tò mò một cách ngộ nghĩnh. Hiển theo đường mòn dưới rặng thông đưa xuống một dòng suối rộng, nước trong như pha lê và lạnh buốt. Hai bên bờ suối là những bụi cây nhỏ hoa tím và những dây leo hoa vàng. Con suối rộng này chảy theo hướng Ðông Bắc tìm đường đổ ra Dương Tử Giang. Khu rừng núi phía Ðông và phía Nam âm u hơn với những cây cổ thụ mọc san sát và cao ngất, với các giống khỉ, hươu, nai, sài cứu (một giống chó rừng)… Phía Bắc là một cánh đồng lúa khá rộng trên đó tầm mắt được dịp phóng đi thoải mái. Ven cánh đồng có con đường đất đỏ rộng, hai bên là cỏ xanh. Dọc theo con đường là nhà dân chúng; nơi đây dân chúng tuy đã chịu vài sự đổi mới nhưng vẫn giữ được nếp sống thuần phác đặc biệt đáng mến.
Hiển trở về Phụng Minh Thôn được ba ngày thì tới ngày giỗ cha mẹ. Tại phòng Hiển, trên đầu giường nằm của mỗi người có một chiếc kệ nhỏ bằng gỗ tạp làm nơi để các đồ dùng lặt vặt. Các đồ lặt vặt được bỏ xuống, đĩa hoa quả được đặt lên, Hiển thắp hương tưởng niệm. (Các thứ đó Hiển mua ở nhà dân chúng.) Lúc đó vào giờ ăn chiều, trong phòng chỉ có mình Hiển. Chợt một số cán bộ trong ban giám đốc trường sịch vào, không hiểu do vô tình hay có người mật báo trước. Một cán bộ, thoáng trông cũng biết là thuộc thành phần tam đại bần cố nông, tiến đến nói bằng một giọng khá hách dịch:
– Ðồng chí còn nặng tư tưởng phong kiến lạc hậu thế đấy!
Ðôi mắt Hiển chợt ngầu đỏ. Tuy nhiên Hiển cũng sẵn sàng không chấp anh cán bộ bần cố nông đã bị đảng mê muội hóa và cuồng tín hóa nếu anh ta không quá trớn hơn nữa. Số là thấy mắt Hiển đỏ ngầu, anh cán bộ cho ngay đó là triệu chứng của “căn bệnh tự ái tiểu tư sản”, anh bèn chỉ trích thêm giọng riễu cợt:
– Chúng tôi chẳng biết đồng chí cúng ai và tưởng niệm cái gì ở khoảng trống này.
Hiển nghiến răng trừng mắt:
– Anh câm mồm, bàn thờ cha mẹ, bàn thờ các liệt vị anh hùng chính là bàn thờ giá trị dân tộc, giá trị chính mình! Chỉ có những kẻ vô giá trị mới nhìn lên bàn thờ mà thấy đó là khoảng không.
Sự thực Hiển cũng không có ý đặt vấn đề đến mức siêu hình như vậy, Hiển chỉ muốn gián tiếp trình bày với mấy cán bộ cao cấp đứng quanh đấy rằng chàng làm giỗ cha mẹ với một quan niệm vững chãi, không hề đi xa đường lối của đảng. Nhưng sau khi sừng sộ nói một hồi như vậy Hiển thấy trừ một khuôn mặt nhìn chàng với cảm tình đặc biệt còn tất cả giữ vẻ lạnh lùng.
Anh cán bộ bần cố nông chỉ vào mặt Hiển nói giọng lên án cảnh cáo:
– Ðồng chí còn nặng đầu óc cá nhân, tiểu tư sản thoái hóa, tối nay giờ sinh hoạt, đồng chí sẽ tự kiểm thảo trước toàn thể anh em.
Quả nhiên tối hôm đó thái độ cùng lời nói của Hiển được đem ra mổ xẻ vào giờ sinh hoạt. Hiển ngồi giữa, các lời phát biểu, phê bình, chất vấn, từ bốn phía thay phiên nhau đổ lại. Buổi họp kéo dài đến mười hai giờ khuya, Hiển mệt nhừ. Sau cùng Hiển đành thú nhận là còn nặng bệnh anh hùng cá nhân, còn quá nô lệ cho lòng tự ái, tự túc tự mãn.
Khi mọi người đã về giường ngủ, Hiển còn ra trước hiên làm mấy động tác hô hấp thật mạnh như muốn dùng hơi lạnh ban đêm thoa dịu những bực rọc trong lòng. Cảnh nghèo đói, cảnh cha mẹ chết trong cực nhọc, làm sao mà một tâm hồn cương trực và dễ xúc động như Hiển quên nổi? Hiển luôn luôn thương quí những người dân quê nghèo, đó là lẽ dĩ nhiên. Hiển vẫn thành kính nghĩ qua nỗi niềm chủ quan của chàng: Họ chính là viện bảo tàng sống vừa gìn giữ thể hiện những năng lực bền bỉ cùng những đức tính tinh khiết nhất của dân tộc. Cách mạng là bồi bổ những năng lực đó, những đức tính đó. Người cán bộ nông dân kia đã để mất những thiên tính cao quí của người nông dân thuần hậu chất phác, hắn rơi vào cử chỉ kiêu hãnh tầm thường nhất, lầm lỗi nhất là lên mặt với một dúm trí thức hời hợt, hắn mới học mót được của người (ý nghĩ này của Hiển cũng gần giống như ý nghĩ của Tân về Mạnh, chủ tịch huyện Thanh Ba). Cách mạng hầu như khuyến khích sự kiện đó. Không được! Hiển nghĩ nếu cán bộ thuần một giống bò sát như thế thì muôn kiếp dân tộc ở vào vị trí chầu rìa để làm cái công việc tung hô và ngưỡng mộ vô cùng đơn bạc hèn kém (Như mấy anh hùng quân đội trong chuyến sang thăm Liên Sô với chàng). Hờn giận làm Hiển thấy nghẹn ngào nơi cổ.



























































































