Khi Hồng Quân của họ Mao với sự trợ lực của các chiến sĩ Việt đã chiếm trọn Hoa Nam lập đồn ở bên kia biên giới, Pháp phải tính chuyện rút gấp khỏi Cao Bằng. Ðồn Ðông Khê bị quân ta chiếm lại lần thứ hai, lần này chiếm đứt.
Bông Lau! Bông Lau!
Rừng xanh pha máu.
Bông Lau! Bông Lau!
Ngàn đời lưu danh về sau.
Bài ca chiến thắng Bông Lau từ năm 1947 nay lại vang lên trong đoàn quân có Ðồng và Uy. Họ gồm hàng ngàn người tiến đến địa điểm trên. Khi tới nơi, họ bí mật đào công sự đợi phục kích đoàn quân lê dương Pháp từ Cao Bằng sắp rút qua.
Cảnh trí đèo Bông Lau – tiếng địa phương gọi là Ðèo Lũng Vài – có một vẻ đặc biệt ngoài những chiến công lịch sử của nó: một bên là khu đồi trùng điệp thuần một giống lau mọc san sát, một bên là sườn núi đứng dựng như một bức thành cổ đã bị thời gian tàn phá nhiều nhưng còn giữ được vẻ uy nghi của nó. Bộ đội của Ðồng, Uy nấp sau núi đó đã rót rất đúng những trái moóc-chê 8 ly vào khúc giữa con trăn khổng lồ là đoàn lê dương của Pháp.
Ðồng cười lớn:
– Uy ơi, anh em mình khi vui khi buồn có nhau nhỉ!
Uy nắm lấy tay Ðồng cười theo.
Hai chú bé ở trại thiếu nhi, hai chú liên lạc ủy ban ở bến Trăm nay đã là hai chiến sĩ, khuôn mặt có già dặn trước tuổi vì nắng gió nhưng tâm hồn còn trẻ thơ.
Có tin hai đại tá địch bị bắt sống. Vài ngày sau tiếp tin quân đồn trú địch tại Lạng Sơn cũng đã rút lui không kèn không trống. Việt Bắc hoàn toàn được giải phóng! Tinh thần quân đội và nhân dân phấn khởi tới tối cao. Ðồng, Uy cùng được kết nạp là đảng viên vào dịp này để rồi cùng được cử sang Tàu theo học lục quân khóa bảy.
Cũng kể từ đấy Ðảng chuyển hướng hẳn. Cho rằng mình đã tuyệt đối nắm vững ưu thế, thiên thời và nhân hòa, Ðảng bắt đầu rời bỏ mảnh đất dân tộc nhảy sang mảnh đất giai cấp đấu tranh.
VI
Nhân danh dân tộc trong một cuộc chiến đấu vì chính nghĩa thì từng dải đất từng ngọn cỏ, từng thớ cây như có sự giao tình thắm thiết với người chiến đấu và trăm ngàn vạn mớ lệch lạc đem tình dân tộc ra kê cũng thành vừa. Nhảy sang mảnh đất khô cằn của giai cấp đấu tranh, lũ người lãnh đạo kia như lũ chó thả mồi bắt bóng. Rồi trong thế chơi vơi vỡ lở, một mặt chúng bám lấy những ưu thế dĩ vãng, một mặt chúng dùng đủ thủ đoạn mà củng cố lập trường. Thực thể dân tộc là sự hiện diện mênh mông của lịch sử của thời gian, của không gian, cố tình bưng tai bịt mắt phủ nhận thực thể dân tộc, kìa, hãy trông chúng bơi trong ảo tưởng như bơi trong khoảng bọt ngầu trắng bập bềnh vì phải bội.
Trở lại chuyện Ðồng, Uy vừa được kết nạp thì sang Tàu ngay theo học lục quân khóa bảy. Lòng hăng hái của kẻ mới được kết nạp đặc biệt thổi bồng trí tưởng tượng lứa tuổi hai mươi của Ðồng. Ðược chứng kiến “các bậc đàn anh” tự giam mình trong phòng kín leo lét ngọn đèn dầu, viết phản tỉnh thư, Ðồng nghĩ ngay đến việc “xây dựng” cho bạn, vì sau người điển hình, đến lượt Uy lên bàn mổ tam phản. Kể từ thuở biết nhau tại trại thiếu nhi, rồi cùng đảm nhiệm công tác liên lạc ở bến Trăm, rồi vào sinh ra tử với quân đội, đôi bạn đã cùng nhau có biết bao kỷ niệm và kỷ niệm nào phân tích theo “biện chứng Mác-Lê” chẳng giúp Ðồng tìm thấy được những uẩn khúc “phi cách mạng” cần được khách quan tố cáo để xây dựng “nhân sinh quan cách mạng” cho Uy?
Ðồng nghĩ: Việc Uy hằng nhắc đến ba ở Phú Thọ khi công tác ở bến Trăm há chẳng là triệu chứng của căn bệnh “gia đình chủ nghĩa”? Như vậy làm sao Uy có thể hoàn toàn quên mình khi Ðảng cần tới? Việc Uy trước đây từng luôn miệng ca ngợi vẻ đẹp của con sông Thương vào mùa mưa ngâu Tháng Bảy há chẳng là căn bệnh yếu hèn của tụi tiểu tư sản?
Trong chiến dịch Cao Bắc Lạng vừa qua, việc Uy reo vui khi tìm ra đôi giày da chiến lợi phẩm vừa chân như in, há chẳng tố cáo Uy còn nặng óc hưởng thụ, còn nô lệ cho cá nhân chủ nghĩa?



























































































