Kỳ chót
Người bạn thứ hai, anh Mỹ, một nhà văn hóa, trước có giao thiệp nhiều với phe Ðệ Tứ. Kháng chiến, có vào đoàn thể cứu quốc, nhưng để chống đối nhau với Cộng sản, đến khi không chịu được thì về thành. Nay đã trên bốn mươi tuổi, mới lấy vợ, vợ đương có mang, lại mới tậu được căn nhà nhỏ làm chút tư hữu.
Tuổi bốn mươi trở ra bắt đầu có khuynh hướng an phận thủ thường níu giữ chút gì mình có, biết rằng ở lại thì… ngột ngạt hương hoa, nhưng ra đi bỏ lại thì không đành, rồi tìm cớ để tự an ủi: “Sài Gòn đất tốt thật nhưng cây cao mà rễ nông, nền văn minh căn bản của dân tộc rồi trước sau cũng phải về bắt rễ ở đất Thăng Long này.” Và Mỹ ở lại.
Người thứ ba là Hữu vừa ra khỏi đây, cô gặp đấy. Tôi quý Hữu vô cùng, Hữu tin là dân tộc mình không những có khả năng mà còn có thiền mệnh mang lại cho nhân loại một nền văn minh mới quân bình tình với lý, hòa hợp người với thiên nhiên… Anh vẫn nói dân tộc mình đau khổ mấy ngàn năm rồi mà vẫn trường tồn tất phải có thiên mệnh nào chứ! Anh bị cộng sản bắt giữ ngay từ đầu kháng chiến, di chuyển hết trại giam này sang trại giam khác, cứ trơ trơ như vậy. Nhốt chán họ thả anh ra, thì thấy trong tù hay ngoài tù anh cũng cứ “tỉnh bơ” như vậy, sau cùng họ không buồn kiểm soát nữa, liệt anh vào hạng cuồng chữ, học giỏi biết nhiều, mở miệng bàn toàn những Hà Ðồ, Lạc Thư, Thiên Cơ, Bát Quái… Khi vào Thành gặp bạn nào anh cũng nói bằng tiếng Pháp: “Tao đã lăn lóc hết các nhà tù của chúng nó mà tao không chết!” Bây giờ thì Hữu cương quyết ở lại, tuyên bố thẳng với các bạn bè thân tình: “Tớ đã có nhiều kinh nghiệm với chúng nó, ngày nào chúng nó mang cái mất độc lập về, ai cũng đi cả thì ai ở lại kháng chiến? Tớ ở lại, chúng không giết đâu. Các cậu cứ vào Nam, ai làm được cái gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến.”
Tôi lại còn một số bạn nữa là cộng sản chính cộng – (lời anh Khiết đến phần kết thúc) – họ hay tin tôi cương quyết vào Nam bèn viết thư nói kháy: “Thông minh như mày mà cũng đi theo đế quốc xin cơm thừa canh cặn của chúng sao?!”
Nói chuyện với em đến đây anh Khiết cười lớn rồi ra về. Bệnh tình của me em thuyên chuyển dần. Em sưu tầm đọc thơ văn anh. Không còn được gặp anh nữa thì tìm lại hình ảnh anh trong tác phẩm vậy. Trước khi đưa tiễn gia đình vào Nam, anh Khiết còn tới chào me em lần cuối. Rồi Hà Nội tiếp thu, em gặp cô bạn cũ mới tậu rẻ được một chiếc villa ở đường Lạch Tray Hải Phòng. Cô bạn lên Hà Nội chờ gặp cha, anh và chồng sắp vào tiếp thu… Anh biết đấy, em đã mượn chìa khóa villa của chị bạn xuống tìm anh ở đất Cảng.
“Tớ ở lại chúng không giết đâu, các cậu cứ vào Nam, ai làm được gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến!”
Chính câu nói đó của anh Hữu đã ngấm ngầm tác động mạnh vào trí tường tượng của em là em nẩy ý kiến xuống Cảng tìm anh. Me em ở ngoài này, con em ở ngoài này, em phải ở lại chứ, vả em cũng quen với đời sống đó rồi. Nhưng em phải xuống Hải Phòng tìm anh, nhất là vào dịp đó, dịp em có thể… thụ thai. Em muốn giữ lại miền Bắc một kỷ vật của anh, em muốn nuôi nấng đứa con đó – nếu có – theo tinh thần phóng khoáng của anh ở ngay miền tình cảm cằn cỗi này. Âu cũng là một cách kháng chiến đúng với tinh thần của anh Hữu, nhưng theo kiểu của em. Em nhớ anh Khiết hôm đầu có nói với em là anh xuống Hải Phòng để chờ ngày cùng cô bạn gái làm ở nhà thương cùng vào Nam bằng đường thủy. Em chỉ còn biết cầu trời anh chưa vào Nam, cầu trời cho em được gặp anh một lần cuối, cầu trời tránh cho em niềm tủi nhục vồ trượt hạnh phúc trong lần gặp mặt quyết định này, em lẩn trốn anh đã nhiều rồi, anh yêu dấu.
Trời đã cho em toại nguyện!
Giờ đây em còn cảm thấy những ngón tay anh như những con rắn nhỏ đam mê miết sát lấy da đầu em, bám chắc lấy chân tóc.
Em chẳng cần giữ ảnh của anh làm gì, bởi cái đẹp của người đàn ông là ở nếp sống phóng khoáng hay phong trần, mà nếp sống thì người ta không thể chụp được. Anh ơi, có bao giờ người đàn ông quên người đàn bà đã sinh con cho mình? Hai mươi ngày qua rồi! Em cần xuống Hải Phòng nhìn lại lần cuối khung cảnh ân ái của chúng ta và để kịp viết cho anh ít trang thư như anh đã nhận, rồi em trở về Hà Nội trước khi triệu chứng – nếu có – bắt đầu. Em không muốn để anh phải bận tâm thắc mắc về việc này. Trong vòng tay anh, từng tế bào em rung động, nếu cứ tưởng tượng mỗi tế bào là một vì tinh tú thì thân thể em là một vũ trụ bao la – bao la mà có biên giới – hàng triệu triệu tinh tú run rẩy bối rối trong từng quỹ đạo riêng, nhưng nhìn tổng quát thì sự run rẩy đó – kể cả khi cuồng loạn nhất – vẫn theo một trật tự nhịp nhàng nào đó, bởi sự nở giãn của vật chất không sao đuổi kịp sự nở giãn của tinh thần, mà tinh thần thì nhẹ hơn thinh không, và sức sáng láng của tinh thần dù có chói lòa cùng không vì thế mà làm lật nhào khối lượng. Em đã nói hết, anh yêu dấu của em ở bên kia vĩ tuyến! Với anh giờ đây em cũng là “người đàn bà bên kia vĩ tuyến.”
Người đàn bà bên kia vĩ tuyến của anh đã chấm dứt hàng chữ cuối cùng của lá thư cuối cùng này ở đây.
Hôn anh một cái hôn làm nổ vỡ tinh cầu nhưng tình chúng ta thì chói rạng mãi mãi.
Vĩnh biệt anh.
Em
HẾT







































































