Biển Ðông Bắc Á cũng nổi sóng


Hùng Tâm/Người Việt

Hạm Ðội Hải Dương của Trung Quốc, Nhật và Nam Hàn đều xuất hiện

Trong khi Ðảng Cộng Sản Trung Quốc bước vào hội nghị kỳ ba của Ban Chấp Hành Trung Ương để chuyển hướng thì mùng 1 tháng 11 này, Nhật có 18 ngày tập trận với 34 ngàn quân dùng súng đạn thật. Bên cạnh đó Nam Hàn cũng vừa thông báo một kế hoạch quy mô để tự trang bị phương tiện cho một bộ máy hải quân có tầm viễn duyên. Như vậy, vùng biển Ðông Bắc Á cũng bắt đầu nổi sóng. Hồ Sơ Người Việt cùng tìm hiểu về sự chuyển động bất thường này.


Nhật là cường quốc hải dương

Từ nhiều năm nay, khi Trung Quốc xuất hiện với những phương tiện hải quân lớn mạnh chưa từng thấy trong lịch sử xứ này, Bắc Kinh đã gia tăng mâu thuẫn với Nhật.

Việc Trung Quốc tổ chức lại bộ máy quân sự với lực lượng hải quân hiện đại đã khởi sự từ năm 1992. Ðấy cũng là lúc Nhật trôi vào chu kỳ suy sụp kinh tế kéo dài hai chục năm. Năm 2010, khi Trung Quốc vượt Nhật Bản về sản lượng kinh tế để đứng hạng nhì thế giới thì mối tranh chấp âm ỉ giữa hai nước về chủ quyền trên quần đảo Senkaku của Nhật, mà Trung Quốc nhận là của mình và gọi là Ðiếu Ngư, đã bùng nổ. Vụ tranh chấp lên tới cao độ cuối năm ngoái khi chính quyền Nhật mua lại các quần đảo này của tư nhân, tiếng là để giải tỏa mối hiềm khích Hoa-Nhật mà thật ra lại gây phản ứng dữ dội từ quần chúng của hai nước.

Thế rồi, chính phản ứng ái quốc của dân Nhật đã giúp ông Shinzo Abe thuộc đảng Tự Do Dân Chủ đại thắng, lên làm thủ tướng với chủ trương cải cách kinh tế và xây dựng lại sức mạnh ngoại giao và quân sự cho nước Nhật. Ngoài yếu tố năng lượng dưới mặt biển, khả năng kiểm soát và bảo vệ quyền tự do lưu thông ngoài đại dương cũng là động lực của Ðông Kinh khi Bắc Kinh bành trướng sức mạnh quân sự từ vùng biển cận duyên ra viễn duyên – từ biển xanh lục ra biển xanh dương – và đòi kiểm soát cả thềm lục địa của biển Ðông Á bằng cái “lưỡi bò chín khúc.”

Tuần qua, cùng với những tuyên bố cứng rắn của Thủ Tướng Abe, Nhật thông báo một cuộc tập trận từ mùng 1 đến 18 tháng 11 với 34 ngàn quân của ba binh chủng Không, Hải và Lục quân. Một trong nhiều mục tiêu của cuộc tập trận bằng đạn thật là thao dượt khả năng đổ bộ. Thí điểm trắc nghiệm là một hòn đảo nhỏ (Okidaito-Jima, Trùng Ðại Ðông Ðảo) cách đảo Okinawa 400 cây số về phía Ðông Nam. Thuộc quần đảo Ryu Kyu (Lưu Cầu), Okinawa hay Xung Thằng là một đảo lớn và cũng là căn cứ quân sự trên biển Ðông Hải, đối diện với eo biển Ðài Loan và gần quần đảo Senkaku đang có tranh chấp.

Ðáng chú ý là năm ngoái, Nhật dự tính thao dượt việc đổ bộ này trong một cuộc tập trận quy mô mà về sau đã hủy vì sự phàn nàn của Bắc Kinh. Năm nay, Nhật quyết không nhượng bộ vì Trung Quốc cũng chuẩn bị tập trận như vậy, để “nâng cao khả năng bảo vệ chủ quyền trên các quần đảo có tranh chấp như Ðiếu Ngư hay Nam Sa.” Nam Sa chính là Trường Sa, một tâm điểm khác của mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước Ðông Nam Á, kể cả Việt Nam.

Trong cuộc tập trận lần này, Hải quân Nhật sẽ lần đầu tiên phô diễn loại hỏa tiễn “địa-hải” đặt trên đảo Miyakojima và mẫu cực Nam của đảo Okinawa. Dù chỉ phô diễn chứ chưa chắc đã sử dụng, loại hỏa tiễn Type 88 này cho thấy khả năng bảo vệ toàn vùng hải lưu giữa Okinawa và Miyakojima. Gọi là địa-hải vì đây là loại hỏa tiễn đặt trên đất liền với công dụng bắn hạ chiến hạm ngoài biển. Chiến hạm nào, và của ai, sẽ nằm trong tầm ngắm này? Mọi người, nhất là Bắc Kinh, đều hiểu rằng đó là chiến hạm của Trung Quốc.

Nói về sức mạnh thì sản lượng kinh tế Nhật chỉ đứng hạng thứ ba sau Hoa Kỳ và Trung Quốc – khoảng sáu ngàn đô la so với 16 ngàn của Mỹ và tám ngàn của Tầu. Nhưng đo lường ở lợi tức một đầu người thì năng suất của 126 triệu người Nhật là 47 ngàn đô la một năm, so với 48 ngàn của 330 triệu người Mỹ và chưa tới bảy ngàn của một tỷ 350 triệu người Trung Quốc. Ðấy là một lẽ về thực lực của ba cường quốc kinh tế này.

Một yếu tố khác là Nhật đã sớm kỹ nghệ hóa và có truyền thống hải dương từ nhiều thế kỷ.

Qua thế kỷ 20, Hải Quân Nhật từng đánh bại Hải Quân Trung Quốc và Nga rồi đương đầu với Hải Quân Hoa Kỳ trước khi thất trận trong Thế Chiến II. Từ đó, Nhật bị giải giới và chỉ có lực lương tự vệ chứ không được quyền có quân đội. Chiều hướng này đang thay đổi vì Nhật cần khả năng quân sự để bảo vệ quyền lợi của một quốc gia quần đảo thiếu tài nguyên nên phải buôn bán với bên ngoài. Trong khi Trung Quốc lại đòi kiểm soát quyền tự do lưu thông và buôn bán qua vùng biển Ðông Hải và cả khu vực Tây Thái Bình dương nối liền với Ấn Ðộ dương và Úc Châu.

Hải Quân Nam Hàn xuất hiện

Giữa những tranh chấp Hoa-Nhật trên vùng biển Ðông Bắc Á, gần đây người ta thấy xuất hiện một nước khác là Ðại Hàn Dân Quốc, hay Ðại Hàn, hay Nam Hàn.

Tin tức thời sự cho biết là Nam Hàn đã có kế hoạch xây dựng lực lượng Hải Quân cho 10 năm tới. Tuần qua, một dân biểu thuộc đảng Tân Quốc Gia Saenuri đang cầm quyền của Tổng Thống Phác Cận Huệ (Park Geun-hye) xác nhận Nam Hàn đang chuẩn bị mở rộng khả năng hải quân ngoài biển xanh dương. Tức là sẽ có hạm đội loại viễn duyên chứ không chỉ bảo vệ vùng cận duyên.

Một cách cụ thể thì Nam Hàn lập kế hoạch chế tạo thêm ba khu trục hạm và nâng cao khả năng tác chiến dưới mặt biển với các tiềm thủy đĩnh lớn hơn và mạnh hơn. Ðó là tiêu chí cho 10 năm tới. Thật ra, Nam Hàn còn ráo riết sản xuất thêm trong vài năm tới một mẫu hạm thứ nhì thuộc hạng Dokdo để tiếp nhận cả trực thăng lẫn phi cơ và từ 2028 đến 2036 sẽ có hai hàng không mẫu hạm loại ba vạn tấn.

Nói đến Nam Hàn, người ta thường chỉ nghĩ tới mối nguy Bắc Hàn trên bán đảo Triều Tiên.

Thật ra, Nam Hàn có nhu cầu và tham vọng lớn hơn việc phòng thủ biên giới mạn Bắc. Là một cường quốc kinh tế thuộc loại bán đảo, Nam Hàn cũng có nhu cầu bảo vệ quyền lợi trên biển.

Sống trên bán đảo Triều Tiên, dân Ðại Hàn (hay Cao Ly là tên gọi thời xưa) ý thức được vấn đề an ninh truyền thống: Khi muốn tấn công Nhật, Trung Quốc dùng bàn đạp là từ Mãn Châu tiến vào bán đảo Triều Tiên. Ngược lại, Nhật có muốn tấn công Trung Quốc thì cũng vào Triều Tiên. Trong lịch sử xa xưa, Nhật đã đổ bộ vào Triều Tiên và xâm lăng Cao Ly từ năm 1592 đến 1598. Trong thế kỷ 20, Nhật đã tấn công Triều Tiên vào năm 1910 rồi tiến vào Trung Quốc cho đến khi bị Hoa Kỳ đánh bại trong Thế Chiến II. Sau đó, Liên Xô và Trung Quốc cũng đã xua quân từ Bắc Hàn xuống, cho tới khi bị Hoa Kỳ chặn đứng trong cuộc chiến tranh Cao Ly. Cuộc chiến đó chưa chấm dứt mà chỉ tạm ngưng với hiệp định hưu chiến năm 1953.

Ngày nay, khi Trung Quốc bành trướng sức mạnh quân sự và xây dựng hệ thống Hải quân có khả năng viễn duyên và Nhật trở lại phản ứng phòng thủ tích cực với hạm đội tối tân thì Nam Hàn không thể thờ ơ giám trận.

Huống hồ Nam Hàn vẫn còn tranh chấp về chủ quyền với Nhật trên quần đảo nhỏ xíu Dokdo (Ðộc Ðảo – Nhật gọi là Takeshima, Trúc Ðảo) nằm trong Biển Nhật giữa hai quốc gia. Nhật nhận là của mình từ năm 1905, Nam Hàn đòi là của mình từ năm 1952.

Ðã từng bị Nhật xâm chiếm và cai trị, Nam Hàn học được kỹ thuật, tổ chức và cả tinh thần kỷ luật của Nhật, trở thành đối tác chiến lược về kinh tế với nước đàn anh và cừu thù. Nhưng họ không quên lịch sử và mối nguy xuất phát từ Nhật lẫn Trung Quốc và càng thấy rằng tương lai quốc gia nằm ở ngoài biển vì phải buôn bán giao thương với bên ngoài.

Cùng Nhật Bản và Ðài Loan, Nam Hàn đã đầu tư rất mạnh vào Trung Quốc vì mối lợi kinh tế lẫn tính toán an ninh – là tạo ra sự chuyển hóa hòa bình trong ổn định tại Trung Quốc. Nhưng cho dù là làm ăn ở Hoa lục và tác động vào thái độ hành xử của Bắc Kinh, Nam Hàn vẫn phải tự chuẩn bị cho tình huống bất lợi, bằng cách xây dựng thực lực quân sự.

Vấn đề của Nam Hàn vì vậy không chỉ có bài toán Bắc Hàn, mà còn là động thái của Trung Quốc lẫn Nhật. Và trong những tính toán đó, lãnh đạo xứ này cũng phải chú ý đến Hoa Kỳ.

Siêu cường này có thể là sức mạnh bảo vệ hay nguồn cung cấp những kỹ thuật quân sự hiện đại, nhưng cũng là cường quốc không đáng tin vì ưa thay đổi lập trường. Khi hữu sự, lãnh đạo Nam Hàn không thể hoàn toàn trông cậy vào sự cam kết của Hoa Kỳ và còn phải phòng ngừa những lật lọng hoặc cản trở ngấm ngầm của nước Mỹ.

Huống hồ, và đây là một thực tế khác, Hoa Kỳ đang giảm dần mức đầu tư vào quốc phòng và quân sự vì người dân Mỹ muốn như vậy. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật còn giúp Hoa Kỳ duy trì được khả năng can thiệp ở mọi nơi, kể cả bằng máy bay tự động có thể hạ cánh từ hàng không mẫu hạm, chứ không cần đến những căn cứ Không quân hay Hải quân như trong thế kỷ 20.

Nhưng dù có khả năng can thiệp đó, Hoa Kỳ không nhất thiết sử dụng để bảo vệ xứ khác, hoặc sẽ chỉ sử dụng với điều kiện do Quốc Hội cho phép. Nam Hàn không thể trao phó sinh mệnh của mình cho Quốc Hội và dân chúng Hoa Kỳ.

Vì vậy, cuộc thi đua võ trang đang ráo riết mở ra ngoài Ðông hải của Trung Quốc, từ vùng biển Ðông Bắc Á xuống tới Ðông Nam Á.

Kết luận ở đây là gì?

Tại khu vực phi quân sự chia đôi Nam-Bắc Hàn, phía Nam Hàn đã có viết ra khẩu hiệu “Cư An Tư Nguy” bằng tiếng Hán, với thư pháp của Tướng Toàn Ðẩu Hoan, sau là Tổng Thống Nam Hàn (Chung Doohwan).

Muốn có hòa bình thì phải có khả năng bảo vệ hòa bình.

Nam Hàn đã từng vượt Nhật về kỹ nghệ đóng tầu từ hai chục năm trước và nay đã chế tạo chiến đấu cơ. Dù ngân sách có hạn, xứ này vẫn có khả năng làm các cường quốc khác phải suy nghĩ.

Còn Vinashin của Việt Nam?

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT