Sự thật trong chính sách của Hoa Kỳ về Nam Phi


Hà Tường Cát/Người Việt

Bốn trong số năm vị Tổng Thống và cựu Tổng Thống Hoa Kỳ còn  sống – ngoại trừ cựu Tổng Thống George H.W. Bush  89 tuổi già yếu không đi xa được – đã đến Nam Phi cùng với hàng trăm nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới dự tang lễ ông Nelson Mandela.

Nelson Mandela được ca tụng ở khắp mọi quốc gia trên thế giới. Hình trên: lễ tưởng niệm tổ chức tại thánh đường Holy Spirit Cathedral ở Auckland, New Zealand, ngày Thứ Sáu 13 táng 12, 2013. (Hình: Fiona Goodall/Getty Images)

Sự kiện ấy không hẳn đã nói lên được sự gắn bó của Hoa Kỳ với Nam Phi trong nửa thế kỷ qua và ngay cả cho đến gần đây. Hoa Kỳ chưa bao giờ đặt Nam Phi là một đối tượng cần tranh thủ hay phải bảo vệ, và trong đường lối ngoại giao chỉ có sự quan tâm vừa phải theo nhu cầu từng giai đoạn.

Tổng Thống Barack Obama trong bài điếu văn đọc tại sân vận động Johannesburg hôm Thứ Ba, gọi ông Mandela là “nhà giải phóng dân tộc lớn nhất trong cuối thế kỷ 20”. Nhưng thật ra Hoa Kỳ chưa bao giờ quan hệ chặt chẽ và ủng hộ Nelson Mandela qua hầu hết những giai đoạn trong cuộc đời hoạt động của ông.

Cuộc tranh đấu chống chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) lâu dài bền bỉ và qua nhiều chuyển biến để cuối cùng đi đến thành công đã làm ông nổi danh. Nhưng một thành tích quan trọng đáng kể hơn được Tổng Thống Obama ca tụng, thì Nelson Mandella “là một vĩ nhân của lịch sử dẫn dắt đất nước đi đến nền công lý và quá trình chuyển hóa ôn hòa ấy tác động tới hàng tỷ người trên thế giới”.

Cần nhận định rõ rằng Nelson Mandela không phải là người có hào quang đấu tranh bất bạo động như Mohandas Gandhi của Ấn Độ. Theo một báo cáo của CIA năm 1961 ghi lại trong Current Intelligence Weekly Summary số đề ngày 21 tháng 5 năm 1961,  thì Mandela “có lẽ là một phần tử cộng sản”, “biết dùng kinh nghiệm  biểu tình ôn hòa của những nhóm chống cộng để tăng uy tín”. Nhưng vì “là người có khả năng tổ chức”, nên CIA không tin rằng Mandela sẽ hoàn toàn chỉ dùng phương cách đấu tranh bất bạo động.

Từ 1931 Liên Bang Nam Phi đã là quốc gia độc lập và tới 1961 qua cuộc trưng cầu dân ý trở thành một nước cộng hòa.  Chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc apartheid được phát triển từ sau Thế Chiến II thể hiện qua nhiều đạo luật, dành ưu quyền cho dân da trắng con cháu các thực dân Âu Châu mặc dầu số này chỉ chiếm khoảng 9% dân số, so với hơn 80% da đen gốc Phi Châu và khoảng 2.5% dân gốc Ấn Độ.

Nelson Mandela là người cách mạng, mạnh mẽ chống chủ nghĩa apartheid từ khi còn là sinh viên trường luật ở thành phố Johannesburg. Ông gia nhập và trở thành một trong những lãnh tụ trẻ trong Liên Đoàn Thanh Niên của ANC (African National Congress), một đảng chính trị tả khuynh. Do từ môi trường hoạt động ấy và với những biến chuyển của tình thế, Mandela có lúc cũng đồng ý với những hình thức đấu tranh bằng bạo lực chứ không hoàn toàn là bất bạo động. Vì vậy  trong một thời gian dài gần ½ thế kỷ, tên ông nằm trong danh sách những phần tử khủng bố của tình báo Hoa Kỳ cho mãi tới năm 2008.

Mặc dầu các Tổng Thống từ John F. Kennedy đến Bill Clinton đều phản đối apartheid là chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc và hệ thống chính trị không thể chấp nhận được, nhưng những chính quyền Hoa Kỳ từ thập niên 1960 về sau vẫn duy trì quan hệ thân hữu với chính quyền Nam Phi, phần lớn  do hoàn cảnh của thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Hơn nữa Nam Phi là đối tác thương mại quan trọng của Hoa Kỳ, với các mỏ vàng, kim cương, platinum cung cấp cho thị trường tư bản và là một đồng minh vững chắc ở Phi Châu mà Cộng Sản không thể xâm nhập lũng đoạn như trường hợp Angola.

Tháng 4 năm 1976, trong một cuộc hội đàm với Tổng Thống Zambia Kenneth Kaunda, Ngoại Trưởng Henry Kissinger đã phác họa chính sách của Hoa Kỳ tại Phi Châu một cách thực dụng: “Vấn đề đầu tiên mà chúng tôi cần đối phó là Rhodesia (nay là Zimbabwe) sau đó tới Namibia và cuối cùng là Nam Phi. Chúng tôi cần Nam Phi trợ giúp để giải quyết hai việc kia, dù rằng như tôi đã tùng nói, apartheid phải chấm dứt”. Như thế có nghĩa là Hoa Kỳ đồng ý rằng Nam Phi phải có thay đổi, nhưng hãy tạm thời chờ đợi.

Còn Mandela thì vẫn bị nhìn với sự hoài nghi nếu không phải là hoàn toàn thiếu tin cậy. Ông ca tụng chế độ Fidel Castro của Cuba, bênh vực Muanmar Gadhafi ở Lybya, liên kết hoạt động với các phần tử Cộng Sản và từng có lần đề nghị Trung Cộng cung cấp vũ khí,  nhưng Trung Quốc lúc đó coi ANC là chưa đủ chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu du kích trường kỳ nên đã không đáp ứng. Như thế rõ ràng là qua các thời đại Tổng Thống từ Kennedy, CIA không thể coi Mandela là gì khác hơn một phần tử gây rối loạn và nguy hiểm, ở các quốc gia mà công sản muốn xâm nhập.

Ngày 5 tháng 8 năm 1962, nhà cầm quyền Nam Phi bắt giữ Nelson Mandela, phiên tòa năm 1964 tuyên án tù chung thân và ông đã phải vào tù 27 năm trong đó 18 năm ở Robben Island Prison trên một hải đảo ngoài khơi Đại Tây Dương. Những tin đồn trái ngược nhau nói về việc này, tin rằng ông bị bắt vì một số nhóm đã chỉ điểm cho cảnh sát tìm thấy nơi ông ẩn náu. Theo một nguồn tin khác thì có sự trợ giúp của một mật báo viên CIA; mặc dầu không có bằng chứng gì đưa ra nhưng một số cựu viên chức tình báo Hoa Kỳ nói rằng theo họ hiểu thì chuyện này có thật.

Tuy nhiên chính Nelson Mandela thì bác bỏ tất cả những giả thuyết,  và nhìn nhận là do sự sơ hở của cá nhân mình đã không giữ kín được những sự di chuyển. Thái độ cao thượng này có tầm ảnh hưởng quan trọng sau này khi ông đã nắm chính quyền. Ông cho phép điều tra về những tội ác trong chế độ cũ để làm sáng tỏ quá khứ nhưng không thi hành các biện pháp trả thù. Lập trường vững chắc của ông là nhân dân Nam Phi thuộc bất cứ chủng tộc, màu da nào, cần hòa giải hòa hợp để tiến tới tương lai là yếu tố căn bản cho tiến trình dân chủ hóa đất nước trong hòa bình.

Nelson Mandela được ra khỏi nhà tù năm 1990 và thỏa hiệp với Tổng Thống F.W. de Klerk để đi tới chấm dứt chế độ apartheid, sự kiện ấy khiến hai người sau này được giải thưởng hòa bình Nobel. Nhưng ngay cả tới khi ông được bầu làm Tổng Thống  da đen đầu tiên qua cuộc bầu cử dân chủ năm 1995, mối quan hệ của Hoa Kỳ với ông vẫn không thoải mái. Có những lý do dễ hiểu,  ông là người chống Israel bằng những lời lẽ khắc nghiệt, phản đối cuộc chiến tranh ở Iraq, phê phán Hoa Kỳ về cuộc cấm vận Cuba.

Trong thập niên 1980, cả thế giới lên án chế độ kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi và kêu gọi phóng thích Nelson Mandela, nhưng năm 1986 Tổng Thống Ronald Reagan phủ quyết một dự luật cấm vận trừng phạt quốc gia này, và đây là lần đầu tiên từ 100 năm trong lịch sử Hoa Kỳ, quốc hội đã vô hiệu hóa quyền phủ quyết của Tổng Thống. Đạo luật chống apartheid toàn diện (Comprehensive Anti-Apartheid Act) với sự ủng hộ lưỡng đảng đã thu được đa số tuyệt đối để Tổng Thống không thể dùng quyền phủ quyết. Những nhà lập pháp đảng Cộng Hòa, bao gồm cựu Chủ Tịch Hạ Viện Newt Gingrich, thủ lãnh thiểu số Thượng Viện Mitch McConnell và Thượng Nghị Sĩ Richard Lugar đã chống lại vị Tổng Thống trong đảng của họ. Chính quyền Reagan vào thời điểm ấy, vẫn coi cuộc Chiến Tranh Lạnh  là chủ điểm trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ và sự hợp tác với một chính quyền apartheid được xem  như “sự can dự hữu ích”.

Từ 1991 sau khi Nelson Mandela đã được trả tự do, biện pháp cấm vận của Hoa Kỳ giảm nhẹ dần và chỉ được bãi bỏ hoàn toàn khi ông được bầu làm Tổng Thống năm 1994. Tuy vậy chuyện trớ trêu là tên của ông vẩn nằm trong danh sách khủng bố cho tới cuối nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush mới được gỡ bỏ.

Cựu Ngoại Trưởng Condoleeza Rice gọi chuyện này là “một việc gây lúng túng”. Người tiền nhiệm của bà, tướng Colin Powell trong cuộc phỏng vấn của BBC tuần trước, cũng nhìn nhận như vậy nhưng nói thêm: “Tôi không tin là có chủ ý ở đây. Theo tôi có lẽ không ai chú ý đến việc phải bỏ tên ông ra”. Sau đó tướng Colin giải thích rằng ai coi Nelson Mandela như khủng bố là sai, tuy nhiên đây là từ thích hợp về những hành động bạo lực mà ông và ANC đã thi hành.

Dưới con mắt của Washington, Nelson Mandela không thể nào xóa bỏ cái áo Cộng Sản mà một thời tình báo Hoa Kỳ đã nhìn thấy ở ông. Ông đã được giải hòa bình Nobel, được huy chương tự do của Tổng Thống Hoa Kỳ nhưng cũng đã lãnh giải hòa bình Lenin từ Liên Bang Xô Viết.

Trong hồi ký viết năm 1994, Mandela xác nhận: “Khi một con người bị khước từ quyền sống theo như họ tin tưởng thì hắn ta không có chọn lựa nào khác hơn là trở thành kẻ ngoài vòng pháp luật”.
Cá nhân ông cũng không tán thưởng thái độ ngạo mạn của Hoa Kỳ trong các vấn đề quốc tế. Năm 2002 trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Newsweek, ông chỉ trích: “Không nghi ngờ gì là Hoa Kỳ bây giờ cảm thấy họ là siêu cường quốc duy nhất trên thế giới và họ có thể làm bất cứ cái gì họ muốn”.  

 

 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT