K’Sim
Bất kỳ ai biết rõ về tục Duê-nuê (nối dòng), Chuê-nuê (nối dây) của một số dân tộc bản địa ở Tây nguyên đều cảm thấy rất đau lòng bởi nó gây rất nhiều những hệ lụy cho những đứa trẻ thơ.
Ấy vậy mà cho đến thời điểm hiện nay, hủ tục này vẫn còn hiện diện trong những buôn làng người thiểu số ngay giữa một xã hội văn minh như ngày nay.
Xin được nói rõ hơn là, ngay từ xa xưa hầu hết các dân tộc ở Tây Nguyên như Ê đê, Mơ Nông, Ba Na, Jẻ triêng, Gia Rai… đều có tục Chuê-nuê mang một nét chung là, khi vợ hoặc chồng chết trước thì người còn sống sẽ được phép ‘nối dây’ (lấy) anh (chị) hoặc em ruột của vợ (chồng). Ngày xưa người Ê đê luôn bảo tồn tục mẫu hệ (con gái bỏ của cưới chồng về ở nhà mình, con cái sinh ra mang họ mẹ) nhưng khi vợ chết bên vợ sẽ sẵn sàng ép chàng rể phải ‘nối dây’ với chị vợ hoặc em vợ.
Đám cưới của người Ê-Đê ở Đắk Lắk, một phong tục ít nhiều ảnh hưởng từ đám cưới của người Việt. hình minh hoạ. Nguồn: Wikipedia
Mặc dù cả hai đều cảm thấy gượng ép nhưng vì tục lệ ‘bất thành văn’ đành phải nhắm mắt làm vợ, làm chồng vì đám con, đám cháu nhỏ. Nếu chị hay em ruột vợ không còn thì đằng gái sẽ tìm cho một người từ họ hàng (ví như gái lỡ thời do hoặc chồng đã chết…).
Trong trường hợp này, người con gái hoàn toàn không phải mất một xu tiền đi của cưới như tục ‘bắt chồng’ bình thường (tổng chi phí tất cả có ít cũng vài, ba cặp bò). Chỉ trừ trường hợp không tìm được ai trong dòng họ nhà vợ thì, nếu chàng rể ở vậy nuôi con thì đã không ai nói gì lại còn được khen ngợi, cảm phục; nếu đi lấy vợ khác thì phải ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ và chiếc chà gạc (dao quắm dài cán) chứ không được mang theo bất kỳ thứ tài sản nào khác. Con cái sẽ được cha mẹ vợ hoặc chị cả hay người em út của vợ có trách nhiệm nuôi nấng đến nơi, đến chốn, song phải giữ nguyên tài sản, đất đai… của vợ chồng để khi con cái lớn biết tự lập thì giao lại.
Thêm nữa, ngay từ năm 1992, bản thân tôi đã đi đám cưới một người bạn người Ê đê ở xã Ea Tiêu (huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk bây giờ) và cũng hơi ngạc nhiên vì vợ anh chết, bên vợ không tìm đâu ra người để ‘nối’ nên gia đình cho phép chàng rể ‘bắt’ vợ là người Kinh về ở trên đất của cha mẹ vợ đã chia cho vợ cũ (có điều phải làm nhà riêng nhưng người cha vẫn được trách nhiệm nuôi nấng, dạy dỗ con cái như khi vợ còn sống). Hỏi về vấn đề này, nhiều người già trong buôn bảo:”Thằng rể nhà nó hiền lành, tử tế biết thương con nó lắm, con nó cũng vô cùng thương nó nên cho cưới để con nó không bị mồ côi cả mẹ lẫn cha. Ông bà, anh em sao nuôi bằng cha với mẹ được.”
Tò mò tôi hỏi them:”Khi con chung của chàng rể và của người vợ sau sinh ra thì mang họ ai?”. Họ cho biết:”Mang họ cha nó cũng được. Nhưng nếu cha nó đồng ý cho lấy họ vợ cũ để anh em cùng cha khác mẹ sau này thêm thân mật thì ông bà, chị em bên vợ cũ nó thích lắm đấy, vì được thêm con, thêm cháu.”
Các em nhỏ người Ê-Đê. Hình minh hoạ. Nguồn: baokaklak.vn
Một già còn kể thêm:”Nói cho đúng ra trước đây thì không được đâu, nhưng sau nhờ người làng có học được nhiều cái chữ tự hiểu ra rằng tục Chuê nuê phải bỏ vì nhiều điểm không tốt nên tuyên truyền cho lũ làng hiểu và đề nghị làng sửa luật. Trên thực tế thì cả luật tục lẫn luật làng đều có thể sửa đổi những điều không còn phù hợp với cuộc sống từng thời điểm khi hội đồng già làng đồng ý và đa số dân đồng tình. Còn nếu một nửa số dân trong buôn không chịu sửa thì cũng đành phải giữ thôi.”
Như vậy chứng tỏ mọi người, dù là dân tộc nào đi nữa trong xã hội hiện tại, cũng dễ dàng nhận ra những điều bất cập trong luật tục, vì thế mà ở đâu còn những hủ tục là đồng nghĩa với việc chính quyền cơ sở chưa làm tốt công tác tư tưởng với hội đồng già làng và tuyên truyền sâu rộng trong mọi buôn làng, chứ không thể đổ lỗi cho ‘luật tục riêng’ mà thờ ơ trước nỗi đau cộng đồng hiện diện ngay trước mắt.




















































