QUỲNH ANH: Ðây là chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng ngày với Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh. Chương trình được phát hình trên đài truyền hình Hồn Việt để ôn lại những điều chúng ta thường gặp hàng ngày trong Anh ngữ. Quí vị có thể gửi thắc mắc về Hồn Việt TV, chương trình sẽ giải đáp. Thưa anh, Thúy có thắc mắc muốn đặt câu hỏi với anh.
LÃM THÚY: Thưa anh, Thúy nghe những chữ này thường lắm nhưng không biết chúng là loại tiếng gì và dùng chúng như thế nào. Ðó là những chữ như MYSELF, YOURSELF…
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh thấy là hình như chúng cũng có vài ba cách dùng khác nhau nữa.
BÙI BẢO TRÚC (BBT): Tôi xin trả lời thắc mắc của cả hai cô. Trước hết là thắc mắc của Lãm Thúy . Ðó là các đại danh từ được dùng làm túc từ (OBJECTS). Chính xác tên của chúng là REFLEXIVE PRONOUNS mà chúng ta gọi là TÁI QUI ÐẠI DANH TỪ.
REFLEXIVE nghĩa là phản lại, phản ánh, dội ngược lại… do động từ TO REFLECT mà ra. THE WILD PALM TREES REFLECT IN YOUR BLUE EYES…
LÃM THÚY: Mắt em lả bóng dừa hoang dại của ông Ðinh Hùng đó…
BBT: Ðúng rồi. Chúng được dùng khi việc làm của chủ từ quay trở lại với chính chủ từ. Khi nói I HELP HIM là tôi giúp anh ấy thì HIM là túc từ của động từ HELP. Hành động HELP của tôi được thực hiện và anh ấy nhận được sự giúp đỡ của tôi. Hành động HELP được anh ấy tiếp nhận. Nhưng khi hành động đó quay ngược trở về với chủ từ là tôi (I) thì chúng ta nói I HELP ME, hay rõ hơn, chúng ta dùng REFLEXIVE PRONOUN MYSELF thì hay hơn, đúng hơn để thành I HELP MYSELF.
MYSELF là REFLEXIVE PRONOUN, hay TÁI QUI ÐẠI DANH TỰ. Tái là lại một lần nữa. Qui là quay lại. Tái qui đại danh tự là đại danh tự được dùng khi nó quay trở về (với chủ từ) một lần nữa.
Quỳnh Anh nói đúng. Còn có thêm ít nhất một cách dùng nữa của các đại danh từ này. Chúng ta sẽ đề cập tới vào cuối bài học hôm nay.
Ðây là các tái qui đại danh từ: MYSELF, YOURSELF, HIMSELF, HERSELF, ITSELF, OURSELVES, YOURSELVES và THEMSELVES. Hai cô nhớ ngôi thứ nhất số nhiều là OURSELVES; ngôi thứ hai số nhiều là YOURSELVES và ngôi thứ ba số nhiều là THEMSELVES.
QUỲNH ANH: Ðó là luật đổi số ít tận cùng bằng ELF ra số nhiều thành ELVES như SHELF cái giá sách thành SHELVES; ELF là ông tiên thành ELVES phải không thưa anh?
BBT: Cám ơn cô . Bây giờ hai cô cho nghe mỗi cô ba thí dụ với các REFLEXIVE PRONOUNS coi.
LÃM THÚY: THE DOG SAW ITSELF IN THE MIRROR là con chó nhìn thấy nó trong gương.
THEY ASK THEMSELVES THE SAME QUESTIONS AGAIN AND AGAIN là họ tự hỏi chính họ bao nhiêu lần mấy câu hỏi đó.
HE HID HIMSELF IN HIS ROOM FOR DAYS là nó (tự) trốn trong phòng suốt mấy ngày.
QUỲNH ANH: I TAUGHT MYSELF MANY KOREAN DISHES là tôi tự học để nấu nhiều món ăn Hàn Quốc.
Câu này là của Tổng Thống Kennedy chứ không phải là của Quỳnh Anh… ASK YOURSELVES WHAT YOU CAN DO FOR YOUR COUNTRY hãy tự hỏi chính các bạn là các bạn có thể làm gì cho tổ quốc.
WE SAY SELFIE WHEN WE PHOTOGRAPH OURSELVES chúng ta dùng chữ SELFIE khi chúng ta tự chụp hình chúng ta bằng iPhone của chúng ta.
BBT: Cám ơn hai cô. Có một câu này không biết hai cô nghe chưa… KNOW THYSELF.
LÃM THÚY: Thúy chưa nghe chữ THYSELF bao giờ.
BBT: Cô rất đúng vì THYSELF là chữ cổ, thường chỉ thấy trong thi ca hay cách nói thời xưa. THOU là chủ từ. THY là túc từ nghĩa là ngươi, mi, nhà ngươi… Bây giờ chúng ta dùng YOURSELF chứ không dùng THYSELF nữa. KNOW THYSELF là câu của Socrates, một triết gia Hy Lạp. KNOW THYSELF nghĩa là hãy tự biết lấy chính mình. Trong tiếng Pháp, câu này là CONNAIS TOI, TOI MÊME, hãy tự giác.
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh rõ ràng mấy lần nghe mấy đứa con nói HE THINKS OF HISSELF thay vì HE THINKS OF HIMSELF. Nói vậy có đúng không thưa anh?
BBT: Có một số dùng HISSELF như Quỳnh Anh nói. Ngoài ra, người ta cũng dùng THEIRSELVES thay vì THEMSELVES nữa. Hai cách dùng này không được coi là đúng. Nhưng những thành phần ít học, một số ở các tiểu bang miền nam nước Mỹ rất thường dùng chúng. Một số địa phương ở nước Anh cũng có nhiều người dùng chúng. Một số lý luận rằng phải dùng HISSELF mới đúng. Họ nêu lý do trong các trường hợp MYSELF, YOURSELF, HERSELF , OURSELVES thì MY, YOUR, HER, OUR là những chữ gốc POSSESSIVE ADJECTIVES tức là SỞ HỮU TĨNH TỪ vậy thì phải dùng HISSSELF vì HIS cũng là SỞ HỮU TĨNH TỪ mới đúng. Và cũng lý luận như thế họ dùng THEIRSELVES thay cho THEMSELVES.
LÃM THÚY: Nhưng trong trường hợp của THEMSELVES thì THEM là túc từ đại danh tự chứ đâu phải SỞ HỮU TĨNH TỪ như MY, YOUR, HER.
BBT: Cô nói đúng nhưng … cãi với họ làm gì. Cũng như trong tiếng Việt, trong nhiều trường hợp, người đàn ông bao giờ cũng được cho đi trước như anh chị, chú thím, ông bà, cậu mợ… nhưng tại sao lại cô chú mà không phải là chú cô chẳng hạn.
QUỲNH ANH: Thưa anh, trở lại với thắc mắc của Quỳnh Anh. Ngoài cách dùng trên, các REFLEXIVE PRONOUNS này chắc còn được dùng trong những trường hợp khác nữa phải không thưa anh?
BBT: Ðúng vậy. Nhưng đó là khi chúng KHÔNG đóng vai túc từ (OBJECT) của động từ trong câu.
Thí dụ trong câu này: I HEARD THE THUNDER là tôi nghe thấy tiếng sấm sét. Chủ từ là I, động từ là HEARD, túc từ là THE THUNDER. Bây giờ chúng ta cho thêm PRONOUN MYSELF vào thì câu sẽ như thế nào, cô Thúy?
LÃM THÚY: Thưa anh sẽ là I HEARD THE THUNDER MYSELF, hay Thúy cũng đã nghe người ta nói I MYSELF HEARD THE THUNDER, hay MYSELF, I HEARD THE THUNDER. Cả ba cách nói như vậy đều đúng phải không thưa anh?
BBT: Tất cả đều đúng. Nhưng MYSELF trong ba câu của Thúy đều KHÔNG phải là TÚC TỪ. Túc từ đã là THE THUNDER rồi. Ðại danh từ MYSELF KHÔNG còn giữ vai trò túc từ nữa.
QUỲNH ANH: Khi nghe mấy câu Thúy nói, Quỳnh Anh hiểu MYSELF là CHÍNH TÔI, CHÍNH TÔI ÐÃ ÐÍCH THÂN NGHE TẬN TAI tiếng sấm chớp.
BBT: Vậy thì MYSELF trong những câu ấy làm công việc gì hai cô biết chứ?
LÃM THÚY: Ðại danh từ MYSELF không là túc từ mà làm chỉ làm cho câu nói nghe mạnh hơn, rõ hơn, quyết liệt hơn, chặt chẽ hơn, ý nghĩa nặng hơn. Bỏ MYSELF ra, câu vẫn có đầy đủ ý nghĩa nhưng thêm MYSELF vào thì chuyện nghe thấy tiếng sấm được hiểu là chính tai tôi, tôi trực tiếp, tôi nghe rất rõ, không thể sai lầm được, với chính hai tai của tôi.
BBT: Cám ơn cô Thúy. MYSELF làm cho câu nói mạnh mẽ hơn. Chúng ta gọi chúng là INTENSIVE PRONOUNS. Chữ INTENSIVE nghĩa là mạnh mẽ, rõ ràng. Các INTENSIVE PRONOUNS này được dùng chỉ cốt làm cho ý nghĩa của câu mạnh hơn mà thôi. Bỏ đi cũng được. Nhưng dùng chúng thì ý rõ hơn, nghĩa mạnh hơn. Quỳnh Anh và Thúy cho nghe mỗi cô ba thí dụ với INTENSIVE PRONOUNS coi.
QUỲNH ANH: MY GRAND FATHER BUILT THIS HOUSE HIMSELF hay MY GRANDFATHER HIMSELF BUILT THIS HOUSE là chính tay ông nội Quỳnh Anh đã xây căn nhà này.
THEY THEMSELVES DID NOT LIKE CHINESE FOOD hay THEY DID NOT LIKE CHINESE FOOD THEMSELVES là chính họ không thích cơm Tàu.
WE MET THEM OURSELVES WHEN WE FIRST CAME TO AMERICA hay WE OURSELVES MET THEM WHEN WE FIRST CAME TO AMERICA là chính chúng tôi đã gặp họ ngay khi tới nước Mỹ tức gặp mặt họ trực tiepã, đích thân, không qua trung gian nào.
LÃM THÚY: SHE HERSELF DID NOT TALK TO US hay SHE DID NOT TALK TO US HERSELF là đích thân cô ấy không trực tiếp nói chuyện với tôi.
THEY THEMSELVES HELP US MOVE THE PIANO là chính họ đã đích thân giúp chúng tôi di chuyển cái đàn. Hay cũng có thể nói THEY HELP US MOVE THE PIANO THEMSELVES.
HE HIMSELF WARNED ABOUT THE RISK hay HE WARNED US ABOUT THE RISK HIMSELF là chính anh ấy đã cảnh cáo về những rủi ro đó.
QUỲNH ANH: Chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày tạm chấm dứt ở đây. Chương trình sẽ trở lại trong tuần tới.





































































