HÀ NỘI (NV) – Sau những cảnh báo về khả năng kinh tế suy sụp do lệ thuộc vào nguyên liệu Trung Quốc, chuyên gia kinh tế tiếp tục cảnh báo về hiểm họa tiềm ẩn do phụ thuộc vào công nghệ Trung Quốc.

Xe tải chở công nghệ Trung Quốc chuẩn bị chở sang Việt Nam. (Hình: Guang Niu/Getty Images)
Trong một bài viết có tựa là “Ði tìm câu trả lời cho bài toán công nghệ Trung Quốc,” trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ông Nguyễn Quang A, lặp lại điều mà ông và nhiều chuyên gia kinh tế khác đã cảnh báo từ lâu, song không được chính quyền Việt Nam quan tâm và nay trở thành một vấn nạn nan giải do quan hệ Việt-Trung căng thẳng, đó là có quá nhiều dự án, công trình tại Việt Nam đang sử dụng công nghệ Trung Quốc.
Theo đó, hàng loạt nhà máy nhiệt điện, xi măng, phân bón, bauxite,… các dự án hạ tầng liên quan cảng, đường sắt trên cao,… được giao cho các nhà thầu Trung Quốc thực hiện bằng công nghệ Trung Quốc.
Công nghệ Trung Quốc vốn nổi tiếng vì lạc hậu, hoạt động không ổ định, tiêu hao nhiều nguyên liệu, vật liệu nên giảm sức cạnh cạnh tranh của sản phẩm, chưa kể gây ô nhiễm môi trường, hủy diệt môi sinh.
Theo ông A, các khoản đầu tư sử dụng công nghệ Trung Quốc thường là những quyết định chính trị hơn là quyết định kinh doanh và được ép từ trên xuống chứ không phải do bản thân doanh nghiệp. Ông A kể lại chuyện mở rộng nhà máy phân đạm Hà Bắc cách nay 20 năm như một dẫn chứng. Lúc đó, ông tổng giám đốc nhà máy này tâm sự với ông A rằng, có cho không ông cũng không nhận mở rộng nhà máy dựa trên công nghệ Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng, sử dụng công nghệ Trung Quốc ở nhà máy này trở thành hiển nhiên như đã xảy ra ở nhiều nhà máy quốc doanh khác.
Ông A tâm tình, lựa chọn công nghệ phù hợp là vấn đề tối quan trọng không chỉ ở khía cạnh kinh doanh mà cả từ an ninh kinh tế quốc gia. Dẫu các chuyên gia đã cảnh báo rất nhiều về vấn đề công nghệ Trung Quốc trong đầu tư công và phát triển hạ tầng nhưng tất cả những cảnh báo đó đều bị gạt bỏ.
Nếu chủ đầu tư là các doanh nghiệp tư nhân thì họ phải tính toán kỹ. Hậu quả do sai lầm trong lựa chọn công nghệ dẫn đến lụn bại thì họ phải gánh chịu. Song các khoản đầu tư đi kèm quyết định sử dụng công nghệ Trung Quốc tại Việt Nam, đa phần được thực hiện tại các doanh nghiệp nhà nước, vốn không có động lực kinh doanh. Tai họa, nếu có, cả dân tộc cùng phải gánh chịu.
Trước nay, chính sách môi trường của Việt Nam khuyến khích giới đầu tư ngoại quốc đưa công nghệ lạc hậu Việt Nam để không phải nộp thuế môi trường như ở các quốc gia khác. Ðó không chỉ là sự hủy diệt môi trường. Ông A nhắc tới những “biệt khu Trung Quốc” ở Hà Tĩnh mà chính quyền địa phương cũng không tiếp cận để nhấn mạnh đó là những biểu hiện hết sức đáng ngại cho an ninh quốc gia.
Ông nêu thắc mắc, nếu các nhà máy điện, các công trình hạ tầng viễn thông sử dụng công nghệ Trung Quốc, đồng loạt dừng hoạt động, điều vốn không khó thực hiện về mặt kỹ thuật – thì sao?
Ông A thừa nhận, đặt vấn đề cảnh giác với công nghệ Trung Quốc vào lúc này là quá muộn nhưng theo ông, dù thế, vẫn phải nghiên cứu cẩn thận về hậu quả của việc dùng công nghệ Trung Quốc, nhằm chuẩn bị để có cách ứng phó phù hợp.
Tranh chấp chủ quyền ở khu vực quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc khiến kinh tế Việt Nam vốn đã bất ổn càng thêm bất ổn vì nhiều nguy cơ do chính chính quyền Việt Nam tạo ra.
Nhiều chuyên gia kinh tế đang lo ngại rằng, Trung Quốc sẽ gây áp lực bằng cách cắt đứt quan hệ kinh tế-thương mại, khiến kinh tế Việt Nam suy sụp, vì kinh tế Việt Nam vốn đã bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.
Hồi trung tuần Tháng Mười Hai năm ngoái, Bộ Công Thương Việt Nam cho biết, chỉ trong 10 năm, từ 2001 đến 2012, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng 76 lần, từ $210 triệu hồi năm 2001, lên đến $16 tỉ vào năm 2012. Một vài thống kê khác cho biết, khoảng 1/4 số ngoại tệ đã chi trong quan hệ thương mại với Trung Quốc là nhằm nhập cảng nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu. Cũng vì vậy, nếu Trung Quốc ngưng xuất cảng những nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu này, hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ tê liệt, chưa kể hàng loạt công trình rất quan trọng về năng lượng, cơ sở hạ tầng tại Việt Nam hiện do Trung Quốc đầu tư và đảm nhận.
Nếu việc thực hiện các công trình này không thể tiến hành bình thường, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các chương trình phát triển và việc trì hoãn hoàn thành các công trình đó còn gây thêm tốn kém. (G.Ð.)

















































































