Thơ Trần Văn Nam


Thơ Lục Bát
(Thuộc khuynh hướng thi-hóa cảnh vật đô-thị và kỹ-nghệ)


Xiêu lệch trụ


Mù sương trắng xóa lần hồi
Trụ đèn một dãy sần sùi thẩm nâu
Thanh ngang đóng đỉnh buồn rầu
Như hàng thập giá thời đầu Công Nguyên
Ðứng dài, đôi chỗ lệch xiên
Cận kề thiết-trụ bỗng nhiên lỗi thời
Chỉnh-trang tính chuyện đãi-bôi
Hồn thơ bám trụ những nơi phế tàn
Cho tôi phố nhỏ đèn vàng
Con đường thường-trú một hàng xiêu nghiêng.




Nhấp nhô những trạm bơm dầu


Như những tay sắt khổng lồ
Trên sườn non, giữa nhấp nhô quãng đồng
Nhịp lên, tay níu thinh không
Nhịp xuống, rung chuyển mênh mông hồng-trần
Hút năng lượng dưới địa-tầng
Ðời lạm dụng, đốt rụi dần sơ khai
Kêu thương ven xa-lộ dài
Tiếng chim khắc khoải vọng-hoài hoang vu.




Ðêm nóng,
Rì rào máy điều-hòa-không-khí


Mỗi năm một dịp nung hầm
Từ đâu luồng nhiệt tụ quầng không gian
Ra thềm, chiếu đá mơn man
Nhìn vào bếp tối lửa lòn mong manh
Tắt giùm đèn phố quanh quanh
Nhá nhem cho giống đồng tranh tiếp trời
Vọng miền bếp gió ngô khoai
Phương này lục-địa viễn hoài thảo nguyên
Ðiều-hòa-khí nghe vọng rền
Giấc mơ du-tử ngồi thềm khuya xanh.




Những ống khói trên đồng không


Bề thế dựng chốn đồng không
Nhà máy thu dụng nhân công toàn vùng
Những ống khói đứng chập chùng
Cuồn cuộn thả khói mịt mùng trời xanh
Cầu mong chất đốt an lành
Không ô nhiễm, sống chẳng thành âu lo
Quần cư chắc đã thăm dò
An sinh, phát triển, phải cho hòa-hài
Rồi đây mọc phố lầu dài
Trời đêm thiếu mảnh trăng cài mái xiêu
Hoang vu hao hụt ít nhiều
Thị trấn, thảo dã, mong điều-hòa-ca
Sầm-uất hằn mối lo xa
Vẳng nghe đất gọi mượt mà ngàn cây.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT