Nguyễn Xuân Thu
Ở trường, buồn nhất là các dịp Tết. Mỗi lần Tết đến, các em đều về thăm gia đình. Cả trường chỉ còn lại ba, bốn em ở lại.
Tôi thường xuyên là một trong số các em không may mắn ấy. Trong dịp Tết, trường không có người chăm lo cơm nước như ngày thường. Ngày Tết không có người thân bên cạnh, không được hưởng hương vị ngày Xuân. Tuổi trẻ trong những ngày Tết như thế không thể không buồn tủi, không xót xa trong lòng. Một người bạn cùng lớp của tôi tên Nguyễn Tàu có cha mẹ ở Ðà Lạt thuộc nhóm TSQ ở lại trường trong dịp Tết. Anh thường xuyên đắp mền nằm khóc trong những ngày Tết và sau này khi đi lính anh có thói quen khóa trái cửa phòng nhà trọ và không tiếp xúc với bất cứ ai trong những ngày đầu năm.
Một kỷ niệm khó quên nhất đối với tôi trong những ngày ở trường TSQ Huế là Tết năm 1955. Chiều 30 Tết, trường vắng ngắt. Chỉ còn lại vài ba đứa như tôi. Mỗi đứa có một nỗi niềm riêng. Buồn quá, tôi đi lang thang ra phố. Phố xá nhộn nhịp và đông đúc nhưng tôi vẫn thấy lẻ loi. Tự nhiên tôi có ý nghĩ đi thăm chùa Linh Mụ. Sau hơn hai giờ đi bộ, tôi đến chùa. Chùa lúc này không có bao nhiêu khách. Tôi gặp một chú tiểu đang thắp nhang ở dưới chân tháp. Mùi thơm của nhang và khung cảnh u tịch của chùa trong chiều 30 Tết đã làm tôi nhớ da diết đến những cái Tết lúc còn có mẹ.
Tôi đi một vòng quanh chùa rồi rảo bước về. Trên đường về, chợt nhớ đến một người bạn cũ ở Ðông Hà, tôi bèn nhảy lên xe lửa đi tìm bạn. Tôi đi chui không mua vé mà kỳ thực tôi không có đồng nào trong túi. Sau hơn ba tiếng thì tàu đến ga Ðông Hà tôi vội tìm đến nhà bạn tôi. Vào nhà lúc ấy đã hơn 7 giờ tối. Bạn tôi đi vắng. Anh đã về quê ăn Tết. Trong nhà chỉ còn lại hai người em gái xấp xỉ lứa tuổi của tôi. Họ biết tôi là bạn thân của anh Quang. Tôi phân vân chẳng biết đi đâu thì được hai chị em mời ở lại qua đêm. Họ cũng mời tôi ăn tối nhưng tôi từ chối lấy lý do là tôi đã ăn tối rồi nhưng thực ra bụng tôi rất đói. Sáng sớm hôm sau, sáng mồng 1 Tết, tôi từ giã chủ nhà, đi chui xe lửa trở lại Huế. Ðến trường, tôi chạy vào nhà bếp kiếm gì ăn nhưng trong nồi chỉ còn cơm cháy. Quá đói, lúc tôi đang ngấu nghiến mấy miếng cơm cháy thì Nghẹt, một người bạn thời hàn vi, bấy giờ đang đi lính, đến thăm. Anh rủ tôi ra phố kiếm gì ăn. Sau đó trước khi chia tay, Nghẹt nhét vào trong túi áo của tôi 100 đồng, một món tiền rất lớn lúc ấy (bằng một phần ba lương một tháng của một người lính). Ðó cũng là một kỷ niệm khó quên trong đời tôi.
Tôi ở trường TSQ Huế được hơn hai năm thì trường được lệnh phải đóng cửa. Tất cả TSQ được chuyển vào Vũng Tàu. Trong thời gian ở Huế, tôi học xong hai lớp Ðệ Thất và Ðệ Lục. Tôi học khá tốt, trên trung bình và có một mối tình thầm lặng đơn phương với một người con gái chưa một lần nắm tay.
Học tập ở Vùng Tàu và Sài Gòn
Khoảng tháng 9 năm 1956 tất cả TSQ ở Huế cũng như ở Mỹ Tho và Pleiku được đưa đến Vũng Tàu. TSQ Huế ở xa nhất nên chúng tôi được đưa đi bằng đường biển. Từ Huế chúng tôi được đưa đi bằng xe quân đội vào Ðà Nẵng và từ Ðà Nẵng vào Sài Gòn bằng đường thủy, trên chiếc tàu rất lớn mang tên “Ville de Haiphong.” Sau hai ngày trên tàu, chúng tôi đến trường mới. Ðây là một khu đất rộng mênh mông, có nhiều tòa nhà. Khu nhà ở là một tòa nhà năm tầng, rất dài, đồ sộ, nằm sát chân núi, có nhiều phòng ngủ, phòng vệ sinh và nhà ăn, chứa được trên 1,500 em. Tòa nhà này được người Pháp xây dựng đã rất lâu, khoảng đầu thế kỷ. Phía trước trường, bên kia đường, là Bệnh Viện Phục Hồi Vũng Tàu dành cho bệnh nhân quân đội tĩnh dưỡng sau khi ra khỏi bệnh viện và trước khi trở về lại đơn vị của mình. Ngôi trường này ngày nay là trụ sở của công ty xăng dầu của nhà nước. Trường TSQ Vũng Tàu có khoảng trên 1500 em, gồm nhiều sắc tộc, nhưng tuyệt đại đa số là người Kinh.
Chương trình học tại đây cũng như ở Huế, có cả văn hóa lẫn quân sự. Lúc này tôi học lớp Ðệ Ngũ và về quân sự thì tôi học Lớp CC2, nghĩa là tương đương với chương trình huấn luyện bậc trung sĩ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nếu không có gì thay đổi thì cuối năm học 1956-57 thì tôi sẽ phải từ giã nhà trường để gia nhập quân đội.
Nghĩ đến ngày nhập ngũ không một ai không lo lắng, u buồn. Riêng tôi, để chuẩn bị cho ngày ấy, tôi đã cố gắng học gấp đôi, tôi học cả lớp Ðệ Ngũ và lớp Ðệ Tứ một lúc, nghĩa là học nhảy để đến tháng 5 năm 1957 có thể đi thi (thí sinh tự do) lấy bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp (THÐ1C), tương đương với Chứng Chỉ Học Hết Cấp 2 bây giờ.
Nếu đậu được bằng THÐ1C thì khi nhập ngũ tôi được vào Trường Sĩ Quan Ðà Lạt thay vì phải vào Trường Hạ Sĩ Quan Quang Trung. Vì cố gắng quá sức nên tôi bị bệnh và phải nhập viện. Lúc đầu tôi được đưa vào Bệnh Viện Phục Hồi Vũng Tàu, sau chuyển lên Bệnh Viện Cộng Hòa (bệnh viện quân đội) tại Sài Gòn. Tôi nằm bệnh viện tại Sài Gòn trên 3 tháng. Trong thời gian này tôi vừa tự học để đi thi vừa tìm cách trốn ra khỏi trường TSQ. Ðến lúc xuất viện, thay vì về trường TSQ Vũng Tàu, tôi ở lại Sài Gòn, tìm đến nhà anh chị Hùng-Hương, bạn của gia đình chị Chi, một chị y tá đã săn sóc tôi trong thời gian tôi nằm ở Bệnh Viện Phục Hồi Vũng Tàu.

















































































