Nguyễn Xuân Thu
Tôi đi học lớp dự bị đại học văn khoa khá thường xuyên. Trong số nhiều môn học ở lớp dự bị này, tôi thích nhất môn triết học đại cương.
Ðây là lần đầu tiên trong đời tôi được tiếp xúc với môn học lịch sử triết học phương Tây, từ thời tiền Socrate qua thượng cổ, trung cổ, cận đại và hiện đại. Ba trường phái triết học đang thịnh hành trong nửa đầu thế kỷ 20 được giới thiệu một cách rất có hệ thống. Trải qua nhiều kinh nghiệm đau thương trên đất nước, có một số sinh viên nghi ngờ tính khả thi và sự ưu việt của Chủ Nghĩa Mác. Ðối với trường phái triết học Nhân vị của Emmanuel Mounier thì có sinh viên thích, có sinh viên không. Riêng triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre thì hầu hết mọi sinh viên trẻ đều say mê. Môn văn học sử Việt Nam và môn lịch sử Việt Nam cũng là những môn hấp dẫn đối với tôi. Hai môn học này đã cho tôi cơ hội trở về với quá khứ, sống với hơi thở của tiền nhân từ thời dựng nước cho đến những triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau này. Môn học Pháp văn cũng cho tôi làm quen được với những Pascal, Montesqieu, Jean-Jacque Rousseau, Voltaire, Lamartine, Victor Hugo.
Ðể có đủ tiền đi học, tôi phải xin đi dạy mỗi tuần khoảng 6 giờ tại Bà Ðiểm, gần khu Quang Trung ngày nay. Tôi dạy môn toán cho các lớp Ðệ Thất và Ðệ Lục (tức các Lớp 6 và 7 bây giờ). Số tiền kiếm được không nhiều nhưng cũng tạm đủ để chi dùng cho bản thân.
Năm học trôi qua khá nhanh. Thời gian này, tôi bắt đầu có nhiều bạn bè trong lớp. Tôi khó có thể quên được Phạm Văn Hải (họa sĩ, hiện định cư tại Hoa Kỳ), cặp Ðại-Khâm sau này trở thành vợ chồng và Trương Mỹ Nam (tất cả đều đang định cư tại Úc), Nguyễn Thị Hoàng về sau là tác giả của quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Vòng tay học trò” (hiện nay còn ở Việt Nam). Ðộng lực học tập nhen nhúm từ những ngày ở Huế vẫn còn ngự trị trong tôi. Thỉnh thoảng nó lóe lên như một tia sáng nhắc nhở tôi quyết tâm theo đuổi hướng đi của đời mình. Trong kỳ thi cuối năm học, tôi là một trong số những sinh viên may mắn đỗ chứng chỉ dự bị văn khoa kỳ đầu (tháng 6). Tôi tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ Hè ở Huế.
Tôi rời Sài Gòn về Huế trên một chuyến tàu lửa. Con tàu đi qua các tỉnh miền Trung dọc theo bờ biển và chỉ ngừng lại ở những ga chính. Tại mỗi nơi, qua khuôn mặt, lối phục sức của người dân, tôi thấy cuộc sống của họ không đến nỗi thiếu thốn như tôi tưởng. Mặc dù miền Nam lúc này tương đối còn yên, đặc biệt là tại các thành phố chưa có cảnh bom đạn cày xới, nhưng trên khuôn mặt của họ đã thấy ẩn hiện vẻ lo lắng, bồn chồn. Chuyến tàu đến Huế đúng giờ. Huế buổi sáng thật yên bình, đẹp và rất nên thơ.
Tôi tìm đến xin ở lại nhà của Châu. Châu là một trong số hai người bạn cùng quê hiện đang ở trọ học tại Huế. Người bạn kia là chị Giỏi, đã có gia đình. Ngoài hai người bạn này, tôi còn có một mối tình đơn phương và những kỷ niệm vui buồn trong những năm tôi sống trong trường TSQ. Tuy là mối tình đơn phương nhưng chính cô gái ấy là động lực khiến tôi tìm về nghỉ Hè trong thành phố cổ kính này.
Tại Huế, Châu và tôi có đến thăm người con gái ấy, người yêu trong mộng của cả hai đứa chúng tôi. Biết cô đã có người yêu, buồn bã, tôi bỏ ra Quảng Trị dự tính sẽ ở thăm ít hôm rồi trở lại Sài Gòn sớm hơn dự định. Thế nhưng, một cơn mưa giữa mùa Hè đã làm thay đổi hoàn toàn kế hoạch của tôi. Tôi vào tránh mưa trước hành lang của một lớp học, trong đó có cô giáo tên Hồng vốn là bạn thân của người con gái trong mộng của tôi. Tôi gặp cô một vài lần trước đó nhưng không thân. Qua câu chuyện, chúng tôi bắt đầu làm quen với nhau. Cô mời tôi nếu thuận tiện đến nhà cô chơi. Ðúng ngày hẹn, hai hôm sau, tôi đến nhà thăm cô. Tình cảm giữa hai chúng tôi không ngờ nảy nở rất nhanh. Sau buổi đến nhà Hồng, tôi vào Huế trước và chúng tôi hẹn sẽ gặp lại nhau tại đây.
Tại Huế, Hồng và tôi gặp nhau nhiều lần. Chúng tôi bắt đầu thấy yêu nhau. Tôi quyết định không trở lại học ở Sài Gòn nữa mà ở lại Huế, nộp hồ sơ xin thi vào trường đại học sư phạm và theo dự định nếu đậu tôi sẽ ở lại Huế học luôn.

















































































