Viên Linh
Trong những năm gần đây báo chí trong nước lần lượt đăng tải những bài vở tìm hiểu, ca ngợi văn học nghệ thuật miền Nam, tuy thỉnh thoảng cũng còn một hai người muốn dùng mấy chữ thời Chiến Tranh Lạnh, qui chụp nền văn học ấy là “văn học đô thị miền Nam,” ra cái ý rằng nó nhỏ lắm, văn học nông thôn do “cách mạng kiểm soát mới đáng kể.”

Ảnh bìa vài số báo Nghệ Thuật, sưu tập Viên Linh. (Nguồn: hình chụp của Viên Linh)
Tuy vậy, người ta không nêu ra được một tên tuổi nào một tờ báo nào ở nông thôn trong giai đoạn 1954-1975 cả. Nếu có, thì đó lại là mấy anh chui nhủi ở trong rừng, nhưng nền văn học trong rừng lại không có tờ báo nào. Không có nhà in nào, họ làm văn vần, văn xuôi, vẽ tranh minh họa chiến đấu gửi đăng báo ở Hà Nội, mà mãi nhiều năm sau mới đăng, nên nền văn học trong rừng nghĩ ra chỉ là nền văn học ma.
Cho tới nay chưa thấy một nhà phê bình văn học nào phân tích tìm hiểu tại sao văn học miền Nam lại tồn tại vượt không gian và thời gian của nó, tồn tại và phát triển ở hải ngoại đã đành, lại còn tồn tại và phát triển ở Sài Gòn và ở thủ đô Hà Nội, nơi hiện nay đang cử người đại diện ra hải ngoại để tiếp xúc với các nhà văn nhà thơ miền Nam cũ, xin phép tái bản sách của họ ở trong nước. Các đại diện này ở Mỹ cả tháng, ngay trong tháng 8 vừa qua hai đại diện phân công đi các nơi thi hành công tác, vì họ đang cần in sách của các nhà văn hải ngoại, hẳn rằng vì sự mưu sinh đã đành, nhưng ngoài bề mặt, họ muốn nói rằng các nhà văn nhà thơ hải ngoại cuối cùng đã công nhận Hà Nội là đúng, cuộc chiến tranh tàn khốc miền Bắc phát động là đúng, và nay nhà văn hải ngoại đang về in sách ở trong nước là một cách công nhận lẽ phải ấy, như là một cử chỉ “qui hồi chính nghĩa” đáng khuyến khích. Chuyện ấy sẽ nói sau, bài này chỉ tìm hiểu một trường hợp điển hình tại sao văn học miền Nam thập niên ’60 lại hưng phấn dù đất nước chiến tranh, đó là trường hợp tuần báo Nghệ Thuật của “nhóm cái bang” hay nhóm nhà văn nghèo, đã dựng nên một tuần báo văn học đầu tiên in offset đủ màu ở Sài Gòn vào năm 1965, là kỹ thuật ấn loát tân tiến nhất của thế kỷ XX vào lúc đó.
Ngay trong bài phi lộ, nhà văn Mai Thảo – được nhóm cái bang cử làm chủ nhiệm chủ bút (xin xem bài tuần trước), đã hô hào “đứng về phía những cái mới.” Ba mục phải có của tờ báo, một là “Vừa xảy ra đang nói tới,” theo dõi và tường thuật sinh hoạt các lãnh vực của nghệ thuật trong nước và thế giới. Thứ hai là điểm sách, xem phim, kịch, dự hòa nhạc, tường thuật mọi sinh hoạt văn nghệ của miền Nam. Anh em trong bộ biên tập sẵn sàng đi các nơi tham dự các sinh hoạt này nếu được mời. Người viết bài này có mặt trong bộ biên tập như một cây bút thường trực ngay từ số 1, đã đi Cần Thơ, Qui Nhơn,… Mai Thảo đi Huế, ra miền Trung. Mục thứ ba do rất nhiều người cùng phụ trách: Tâm Hồn và Ðất Nước Người, tức là lãnh vực dịch thuật, đăng tải thường xuyên tranh tượng các danh họa thế giới, đương nhiên là trên bìa màu in offset của tờ báo. Mục này chính thức lên bìa và chiếm hoàn toàn số báo từ số 4, cuối tháng 10, 1965. Nghệ Thuật đã xem việc mở các cánh cửa văn học nhìn ra thế giới là một việc ưu tiên.
Trên bìa số 4 có 5 hàng tiêu đề như sau: “Tâm Hồn và Ðất Nước Người qua văn thơ thế giới. Số thơ văn thế giới. Mở những cửa ngõ đúng hướng vào những miền sinh hoạt phồn thịnh nhất của văn học nghệ thuật quốc tế hiện đại. Giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả lớn. Những tìm hiểu mới lạ về tâm hồn và đất nước người. Liên hệ giữa nghệ thuật thế giới và nghệ thuật Việt Nam.”
Chỉ trong 38 trang giấy khổ 9 1/2 x 12 1/2 (kể cả 4 trang bìa), có những đề mục như sau:
– Michel Butor: Ðối thoại, Hoàng Ngọc Biên dịch.
– Bài giảng về văn chương Hoa Kỳ: Ernest Hemingway, Mai Thảo dịch.
– Những vật êm dịu: John Steinbeck, Nhị dịch.
– Người anh họ: Graham Green, Bùi Ngọc Dung dịch.
– Anh Maulnes: Alain Fournier, Mặc Ðỗ dịch.
– Tình yêu và kỷ niệm: Albert Camus, Xích Chương dịch.
– Mikhail Sholokhov và Giải văn chương Nobel, Nguyễn Ðăng.
– Những hạt ngọc bốn biển: Thơ thế giới của Ðức (Wolgang Borchert Wolgang: Bài Hát Ru Con, Nấm Mộ Người Không Tên, Thạch Chương [một bút hiệu của nhạc sĩ Cung Tiến] dịch. Và tiếp theo là thơ Mỹ của Carl Sandburg: Sương Mù. Robert Frost: Lửa Hay Băng, Tuyết Không Sức Nặng. Thơ Trung hoa sau cách mạng ngũ tứ của Tchou Slang, Tsong Pai Houa và P’an Mo- Houa.
Việc dịch thuật không chỉ bắt đầu ở số 4, mà ngay từ số 2 Duy Thanh đã dịch truyện ngắn Cái Nóp của Tuuii Reijonen, Nguyễn Ðăng (Mai Thảo) đã dịch Một Câu Chuyện Rất Ngắn của Ernest Hemingway và Thạch Chương đã viết Chân Dung Jacques Prevert, nhà thơ Pháp và dịch 3 bài thơ của ông này. Có thể nói các thi sĩ trẻ của miền Nam đã rất thích thú với những câu thơ nước người chói sáng như sau:
Dòng Sông
Jacques Prevert
Ðôi vú non em lấp lánh trong ánh trăng
Nhưng nó đá ném
Hòn đá hờn ghen lạnh lùng
Vào phản ánh
Của thân thể em mỹ miều
Ðang khiêu vũ trần truồng
trên dòng sông
Trong vẻ huy hoàng của mùa Hạ.
Những Tình Nhân Phản Bội
Anh đã có một cây đèn
và em ngọn lửa
Kẻ nào giữa đôi ta đã bán đi cái bấc?
Trên số 2 Nguyễn Văn Trung viết về Ngôn Ngữ Kịch, phần lớn Tây phương. Trên số 3 Phạm Duy viết về việc nghe nhạc ngoại quốc, Tạ Tỵ viết về Hội họa Trừu tượng, Anh Ngọc dịch truyện ngắn Tchekhov. Số 5 Phan Lạc Phúc (ký giả Lô Răng) qua mục Chân Dung Tác Giả đã viết về “Alain-Robbe Grillet và quan niệm viết tiểu thuyết. Số 7 Nghệ Thuật dành nhiều trang cho hai tác giả Bùi Ngọc Dung và Phan Lạc Phúc viết về Jean-Paul Sartre. Số 10 Nghệ Thuật tóm dịch lại bài viết của Jean-Francois Josselin trên tuần báo Les Nouvelles Litteraires về sáu nhà văn mới của Pháp.
Ðặt nặng việc dịch thuật trong mỗi số báo là một chủ trương khó thực hiện, nhất là cho một tờ tuần báo, đời sống chỉ có 7 ngày. Trong làng báo, đa số chúng tôi quan niệm việc viết tùy theo viết cho ai, cho báo nào, báo tháng báo tuần hay nhật báo. Tất cả là tùy. Tùy theo. Chỉ nói riêng về thời hạn, thì nhật báo theo người viết bài này, đời sống ngắn nhất: có 24 giờ. Ðọc xong người ta hay ném tờ báo đi. Hôm sau người ta đọc tờ báo mới. Ðời sống một nguyệt san khó nhất, vì độc giả giữ tờ báo đó cả tháng, đọc tờ báo đó nhẩn nha, nên họ đọc kỹ. Báo tháng lại thường có may mắn được đứng trong tủ sách, có khi mãi mãi, hay nhiều năm. Vì thế càng viết cho báo có thời hạn sống lâu, càng khó hơn viết cho báo ngày hay báo tuần. Riêng tờ Nghệ Thuật thì khác, nó ra đời đã 49 năm qua (1965) nó đã được đánh giá là tờ tuần báo giá trị của miền Nam. Báo do Mai Thảo đứng tên chủ nhiệm chủ bút, là trách vụ nhóm 5 người cái bang đặt để cho Mai Thảo, tiền làm báo không phải của Mai Thảo. Cả nhóm 5 người đều có chung một tài khoản trời cho, cả 5 người đều có quyền ngang nhau trong tờ báo: Phạm Ðình Chương, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh Nam và Anh Ngọc. Năm 1965 tôi ở chung phòng với Thanh Nam tại cao ốc Cửu Long đường Hai Bà Trưng Sài Gòn, một đêm anh đã kể tôi nghe sự hình thành tờ Nghệ Thuật, tờ báo anh làm tổng thư ký tới số 18, và cũng từ số này trở đi tôi thay anh, đề tên tôi lên báo mặc dù tôi làm Nghệ Thuật từ số ra mắt.

















































































