Nguyễn Xuân Thu
Nhân một buổi chiều, trong lúc mệt mỏi với công việc, tôi tâm sự với một đồng nghiệp ở cơ quan tại Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn là tôi muốn tìm một học bổng đi học ở nước ngoài một thời gian.
Chị bạn bảo là với tôi, chuyện xin học bổng đi học nước ngoài là không khó. Vài hôm sau, chị cho tôi biết là có cơ quan cấp học bổng cho biết là họ có thể thu xếp cho tôi một học bổng đi học cao học tại Mỹ nếu tôi có ý định xin đi học thật sự. Tôi không tin câu chuyện có thể dễ dàng như vậy nên tôi đã nhờ một anh bạn người Mỹ tên Jean Andre Sauvageot tìm hiểu thêm. Hôm sau anh cho biết là tổ chức Văn Hóa Á Châu khẳng định là họ có thể cấp cho tôi một học bổng trong chương trình học bổng lãnh đạo (leadership scholarship) để đi học tại Hoa Kỳ và yêu cầu tôi liên hệ trực tiếp với họ. Thế là tôi làm một cuộc hẹn gặp giám đốc của cơ quan này và sau đó tôi nộp hồ sơ.
Lúc bấy giờ tôi đang làm việc cho Bộ Giáo Dục, công việc rất bề bộn nên tôi quên bẵng việc nộp hồ sơ xin đi du học. Nhưng khoảng ba tháng sau, tôi nhận được một mảnh giấy nhỏ do cô thư ký ghi lại: “Ông gọi điện thoại ngay cho văn phòng tổ chức Văn Hóa Á Châu.” Thế là chiều hôm đó tôi đến gặp giám đốc của tổ chức này và ký giấy tờ nhận học bổng. Khoảng hai tuần lễ sau, vào giữa tháng 8 năm 1971, tôi đáp máy bay PAN AM đến Mỹ, để kịp vào nhập học khóa mùa Thu năm ấy.
Với ngành giáo dục, tôi được khuyên nên chọn viện đại học Indiana, vì viện đại học này có trường Giáo Dục và khoa Quản Trị Ðại Học rất nổi tiếng. Khoa quản trị đại học thuộc trường giáo dục nằm tại cơ sở Bloomington, bang Indiana.
Trước lúc vào học chính thức chương trình trên đại học, tôi được học ba tháng tiếng Anh để được bổ sung các kỹ năng ngôn ngữ và phương pháp học tập. Ðây là một khóa học rất cần thiết và bổ ích vì vốn liếng tiếng Anh của tôi từ thời học phổ thông rất hạn chế về mặt nói và nghe. Thời học phổ thông, học sinh học tiếng Anh từ các quyển sách tiếng Anh “Englais vivant” nhập khẩu từ Pháp về và do các thầy giáo người Việt thường có giọng đọc không được chuẩn. Do đó, học sinh chú trọng đến ngữ pháp và kỹ năng viết nhiều hơn những kỹ năng nói và nghe. Trình độ tiếng Anh của tôi cũng có khá hơn trong mấy năm đi làm việc nhờ tiếp xúc với người bản ngữ nói tiếng Anh nhưng trình độ đó thật sự còn xa mới đạt tiêu chuẩn tiếng Anh học thuật. Biết được điểm yếu của mình, những năm học đại học, ngoài những môn học chuyên môn, tôi đã có những nỗ lực phi thường để san lấp những hạn chế về tiếng Anh của mình.
Thời gian học tại đại học Indiana cũng là những ngày tháng học tập tốt nhất trong cuộc đời ngồi ghế nhà trường của tôi. Khuôn viên Bloomington là một trong những khuôn viên đại học đẹp và rộng trên nước Mỹ. Nó đẹp và quá nên thơ. Trong những lúc có thì giờ nghỉ giữa các tiết học, tôi thường ngồi trên ghế đá dọc lối đi chung quanh bao phủ bằng cây xanh. Trên cao lúc nào cũng có các chú chim bay hót líu lo. Khung cảnh tại đây thật bình yên, một thế giới hoàn toàn khác hẳn với đất nước Việt Nam lúc bấy giờ, một đất nước đang đắm chìm trong cuộc chiến tranh dai dẳng triền miên ngay từ những ngày tôi mới chào đời và đến nay đang ở vào giai đoạn khốc liệt nhất.
Cũng như đa số sinh viên khác, tôi ở nội trú, trong tòa nhà Eighenman Hall, gồm có 14 tầng và có hình tứ giác, một tòa nhà dành riêng cho sinh viên sau đại học, độc thân hoặc không có gia đình đi theo.
Ðây là thời gian tôi rất hạnh phúc. Tôi không phải lo tiền học, tiền sách vở, tiền ăn ở đi lại như thời tôi ở Việt Nam. Mọi thứ đã có học bổng chi trả đầy đủ. Với điều kiện và môi trường học tập lý tưởng như vậy, nhiều bạn của tôi cố gắng kéo dài thời gian học ở Mỹ càng lâu càng tốt. Riêng tôi thì ngược lại. Tôi nhớ vợ con da diết. Tôi có một vợ và năm đứa con nhỏ còn ở Việt Nam, đứa nhỏ nhất được sinh ra lúc tôi đang ở Mỹ. Việc làm của tôi ở Việt Nam trước khi đi du học cũng rất tốt. Tôi biết rất rõ lúc tốt nghiệp trở về tôi sẽ có việc làm tốt hơn so với lúc ra đi. Với những lý do đó, tôi đã cố gắng học ngày học đêm.

















































































