Tâm Việt
Lời Tòa Soạn. Nhân hội nghị hàng năm về quốc phòng Ðông Nam Á Shangri La bắt đầu hôm nay, 29 tháng 5, ở Singapore mà trọng tâm chắc chắn là tình hình ngày càng gây cấn ở Biển Ðông, tưởng cũng nên nhắc lại sự đóng góp rất ý nghĩa của các xã hội dân sự Việt Phi tại Hội Nghị Manila về Biển Ðông hồi tháng 3 năm nay và mấy kết quả ban đầu của hội nghị đó.
Hôm 27 tháng 3, 2015, một “Hội Nghị Quốc Tế về Biển Ðông” đã được tổ chức tại Trung Tâm Bernas của Trường Luật Ateneo thuộc Ðại Học Tổng Hợp Philippines (University of the Philippines) ở khu Makati, Manila, dưới sự bảo trợ của năm tổ chức phi chính phủ Phi và Việt Nam, Hội Người Mỹ gốc Phi tranh đấu cho một chính quyền thiện trị (US Pinoys for Good Governance, tắt là USP4GG), phong trào DI KA Pasisiil (Pinoy Patriots United, Những Người Phi Yêu Nước), Viện Nghiên Cứu Các Vấn Ðề Biển và Luật Biển (Institute for Maritime Affairs & Law of the Sea (UP)), Họp Mặt Dân Chủ (HMDC), và VOICE.
Ðây phải nói là một hội nghị rất đặc biệt bởi đây là lần đầu các xã hội dân sự ở Việt Nam và Phi Luật Tân, hai quốc gia đứng đầu ngọn sóng chống đỡ những hành động đe dọa đến từ Trung Quốc ở Biển Ðông, đã có thể vượt qua những khác biệt trong quá khứ để làm việc chung cho một giải pháp hòa bình trước tình trạng ngày càng nguy ngập ở trong khu vực. Ðúng như câu tục ngữ của Việt Nam đã phán, “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.” Người thất phu còn có trách nhiệm, huống hồ các xã hội dân sự!
Chuyện này đặc biệt đúng trong trường hợp của người Việt bởi trong một thời gian 21 năm, Việt Nam bị phân chia thành hai thực thể riêng biệt được quốc tế công nhận với miền Nam, được biết dưới tên Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975), là nước có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và (một phần) Trường Sa trong khi miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa) trong thời gian đó là một nước đồng minh với Trung Cộng và là một nước thù nghịch với Sài Gòn. Chính điều nghịch lý này đã làm cho Hà Nội ngày nay tỏ ra lúng túng khi họ đòi phần chủ quyền của một nước tranh chấp với họ. Vị thế của Hà Nội còn tệ hơn nữa bởi công hàm ngày 14 tháng 9 1958 do Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng ký gởi Thủ Tướng Châu Ân lai của Trung Quốc công nhận những định nghĩa về lãnh hải do Quốc Vụ Viện Trung Cộng đưa ra 10 ngày trước đó, trong đó Bắc Kinh coi cả Hoàng Trường Sa (mà họ kêu là Tây Sa và Nam Sa) là của họ.
***
Hội nghị nguyên ngày hôm đó được chia ra làm ba phần.
Phần đầu gồm ba diễn giả người Phi Luật Tân và điều hợp bởi Tiến Sĩ Jeremy Barns, giám đốc Bảo Tàng Viện Quốc Gia Philippines. Người đầu tiên phát biểu là ngài Roilo Golez, một cựu cố vấn an ninh quốc gia Phi và một cựu dân biểu nhiều nhiệm kỳ; ông Golez trình bày một toàn cảnh trong bài “Bối Cảnh và Tình Hình Ðịa Lý Chính Trị Ðang Hình Thành ở Biển Nam Hải” (”Background and the Emerging Geopolitical Situation in the South China Sea”). Tiếp theo ông là Tiến Sĩ Celia B. Lamkin, chủ tịch của Hội US Pinoys for Good Governance (USP4GG), bà nói về đề tài “Xã Hội Dân Sự và Những Sáng Kiến Của Hội Uspgg về Các Tranh Chấp Trên Biển Ðông” (”Civil Society and USPGG initiatives regarding the South China Sea dispute issues”). Người cuối cùng trong phần các diễn giả Phi Luật Tân là Tiến Sĩ Jay Batongbacal, giám đốc Viện Nghiên Cứu Các Vấn Ðề Biển và Luật Biển thuộc Ðại Học Tổng Hợp Philippines, ông cho chúng ta một bản tin cập nhật rất đầy đủ và ý nghĩa về “Vụ kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân” (“The Philippines’ lawsuit against China”).
Giàn diễn giả thứ hai là ba người Việt do Giáo Sư Ðặng Ðình Khiết (trong Họp Mặt Dân Chủ) điều hợp. Người thứ nhất là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa kỳ, ông đề nghị việc “Ði tìm một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột trong Biển Ðông Nam Á” (”Toward a Peaceful Solution to the Conflict in the Southeast Asian Sea”) dựa một phần lên trên những văn kiện chủ quyền chính đáng của Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp theo là ông Hoàng Việt, giảng sư tại Trường Luật ở Sài Gòn, Việt Nam; ông nói về lý thuyết “Các định chế và phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh hải dựa lên công pháp quốc tế” (”Institutions and methods for resolving maritime territorial disputes under international law”). Diễn giả cuối cùng trong phần này là Tiến Sĩ Trần Huy Bích, thủ thư về hưu thuộc thư viện UCLA, ông nói về “Sự thật về các chấp ngôn lịch sử của Trung Quốc trên Biển Ðông” (”Truth concerning China’s historical claims in the East Sea”). Phần trình bày của Việt Nam này sang bữa cơm trưa còn được bổ túc bằng một màn trình bày qua video của nghiên cứu gia độc lập, cụ Nguyễn Ðình Ðầu ở Sài Gòn, nói về các bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam.
Một đặc điểm nổi bật của Hội Nghị Manila là những quan điểm của Phi Luật Tân và Việt Nam đã được củng cố và bổ túc bởi những cách nhìn của một giàn diễn giả quốc tế có trọng lượng, dưới sự điều hợp của Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt. Trong số này, người ta thấy có Giáo Sư Carlyle Thayer, giáo sư ngoại hạng tại Viện Ðại Học New South Wales (ở Úc), ông cho rằng chính sách của Mỹ và Úc cho đến nay tương đương với “Thuận tình ở Biển Nam Hải: Chính sách không đứng về phe nào của Mỹ và Úc” (”Acquiescing in the South China Sea: U.S. and Australian Policies of Not Taking Sides”); Tiến Sĩ Sophie Boisseau du Rocher từ Pháp qua nói về “Tiềm năng đóng góp của Liên Hiệp Âu Châu vào một giải pháp hòa bình ở Biển Ðông” (”The EU’s Potential Contribution to a Peaceful Solution in the South China Sea”); Tiến Sĩ Ota Fumio, một cựu phó đề đốc trong hải quân Nhật, ông căn cứ vào một sự hiểu biết cặn kẽ về tư tưởng chiến lược của Trung Hoa để mô tả “Sự bành trướng trên biển của Trung Quốc: Chiến lược và các phản biện pháp” (”Chinese Maritime Expansion: Strategy and Counter measures”); và cuối cùng là ông Francois Xavier Bonnet, một nhà nghiên cứu người Pháp ở IRASEC (Institute on Contemporary Southeast Asia) trụ ở Bangkok, Thái lan, ông bàn về vấn đề “Khảo cổ học và yêu nước: Những chiến lược dài hạn của Trung Quốc trong Biển Nam Hải” (”Archeology and Patriotism: Long term Chinese Strategies in the South China Sea”).
Như vậy, ta có thể thấy là Hội Nghị Manila, hội nghị đầu tiên với những đặc trưng trên, nghĩa là không phải do nhà nước đỡ đầu hay chủ trương (như phần lớn các hội nghị về Biển Ðông ở Việt Nam) mà là một sáng kiến của các xã hội dân sự Phi Luật Tân và Việt Nam (cả trong lẫn ngoài nước), đã mang lại nhiều cách nhìn mới và gợi ý có thẻ dẫn đến việc xét lại toàn bộ vấn đề tranh chấp lãnh hải ở Biển Ðông và dám tới được một vài cách tiếp cận hòa bình nhằm giải quyết những tranh chấp đó.
Bởi giờ đây là đã hơi quá muộn để cho thế giới quay về chú ý đến khu vực này, một vùng biển then chốt liên hệ đến lợi ích của rất nhiều quốc gia, nhằm tìm ra những giải pháp bền vững cho một vấn đề mà có thể nổ tung thành chiến tranh bất cứ lúc nào.
Cuối ngày, một bản tuyên cáo chung đã được thông qua và ký bởi ông Roilo Golez thay cho nhóm Phi Luật Tân và ông Nguyễn Ngọc Bích, ký thay cho ông Lâm Ðăng Châu, đại diện Họp Mặt Dân Chủ. Bản tuyên cáo chung gồm năm điểm hành động và khuyến cáo như sau:
1/ “Ðề nghị đổi tên của vùng biển này [thường được gọi bằng nhiều tên như ‘Biển Nam Hải,’ ‘Biển Ðông,’ ‘Biển Tây Philippines’ v.v.] thành ‘Biển Ðông Nam Á’”(1) nên được tiếp tục nghiên cứu.
2/ Kêu gọi Trung Quốc phải “ngưng tức khắc những vụ bồi đắp đảo, xây dựng kiến trúc, hay những hoạt động khác trên mọi đảo bãi và rạn san hô [trong Biển Ðông] cho đến khi một Bộ Quy Tắc Ứng Xử được mọi các bên liên hệ đồng ý.”
3/ Ủng hộ “việc thành lập một ủy hội quốc tế độc lập với khả năng dàn xếp các vụ tranh chấp qua thương thảo trước khi đạt tới được đồng thuận về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử.”
4/ “Trong khi chờ đợi, hai chính phủ Việt Nam và Philippines có những cuộc thảo luận nhằm tiến tới một tạm ước giải quyết các tranh chấp giữa hai nước cũng như khai thác chung những tài nguyên mang lợi ích đến cho hai bên.”
5/ Và cuối cùng là “các đồng tổ chức [bảo trợ Hội Nghị Manila] đồng ý việc dựng lên một Ban Công tác chung của các Xã Hội Dân Sự Việt Phi nhằm tổ chức những sinh hoạt ương tự trong tương lai nhằm phát huy những hiểu biết về vấn đề và cung cấp một diễn đàn cho nhân dân các nước liên hệ có tiếng nói trong câu chuyện này.”
Hành động ngay theo những khuyến cáo này, hội nghị đã chỉ định một số nhân sự có mặt tham gia vào Ban Công Tác chung.
***
Ðể lượng định tầm quan trọng của hội nghị, không có gì rõ cho bằng xem chuyện gì đã xảy ra sau hội nghị. Những ý kiến, quan niệm được trình bày ở hội nghị có được xem là có ý nghĩa hay không? Chúng có được tiếp nối đem ra bàn thảo không?
Về phương diện này, ta có thể thấy là hội nghị đã có một vài kết quả được xem là khá tích cực. Tỷ như thạc sĩ Hoàng Việt, sau khi ông trở về Việt Nam, đã được hỏi về những đòi hỏi chủ quyền của Hà Nội và Sài Gòn đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Ông trả lời liền: “Dù là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [tức Hà Nội] hay Việt Nam Cộng Hòa [tức Sài Gòn] thì cũng vẫn là Việt Nam,” có nghĩa là những đòi hỏi chủ quyền của VNCH cũng có giá trị bằng (nếu không muốn nói là hơn) những đòi hỏi chủ quyền của Hà Nội.
Vào ngày 24 tháng 4, 2015, bài trình bày của ông Francois Xavier Bonnet tại Hội Nghị Manila cũng đã được Quỳnh Anh dịch sang tiếng Việt và phổ biến trên VietNamNet. Rồi đến hôm 20 tháng 5, 2015, Tiến Sĩ Sophie Boisseau du Rocher lại có dịp trình bày về vai trò của Liên Hiệp Âu Châu trong tranh chấp Biển Ðông tại Viện Quan Hệ Quốc Tế của Pháp (tức Institut francois des Relations internationales, thường được viết tắt là IFRI).
Như vậy là tuy các bài báo trong nước không ghi nhận xuất xứ từ Hội Nghị Manila, chúng vẫn công nhận tầm quan trọng của các ý kiến được đưa ra tại hội nghị hay của các bài trình bày nói trên.
Tưởng cũng phải nói là Hội Nghị Manila đã xảy ra đúng lúc trong khi tình hình ở Biển Ðông ngày càng sôi nổi. Bởi sau hội nghị này ta thấy liên tiếp nhiều hội nghị quốc tế về Biển Ðông được tổ chức ở những thành phố lớn trên thế giới: như Hội Nghị ngày 4 tháng 5 ở New York (do Journal of Political Risk tổ chức), hội nghị ngày 20 tháng 5 ở Buenos Aires, A căn đình, hội nghị cùng ngày 20 tháng 5 do Viện Quan Hệ Quốc Tế Hoàng Gia Egmont tổ chức ở Bruxelles, Bỉ, Hội Nghị ngày 25 tháng 5 do CSIS (Center for Strategic International Studies, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế Chiến Lược) tổ chức ở Washington, D.C., và nhất là Hội Nghị 5 ngày (từ 25 đến 29 tháng 5) tại Ðà Nẵng giữa các chuyên gia về an ninh quốc phòng của Hoa kỳ với sự tham gia của 80 đại biểu đến từ 10 quốc gia ASEAN, Ban Thư Ký ASEAN và các nước Australia, New Zealand, Nhật Bản và Mông Cổ.
Ghi chú:
(1) Quan niệm này, quan niệm là ta nên tránh sự hiểu lầm hay lẫn lộn giữa các tên gọi khác nhau của cùng một vùng biển, đã được một số học giả Việt Nam đề nghị cách đây một số năm. Trong phần phụ lục của kỷ yếu về Hội Nghị Manila sẽ in lại một bài trình bày vấn đề của sử gia Phạm Cao Dương. Sau đó, tổ chức Nguyễn Thái Học Foundation (trụ sở ở Irvine, California) đã đưa một kiến nghị lên trang mạng Petition on line mà cho đến gần đây đã thu thập được 72,840 chữ ký đến từ hơn 100 quốc gia trên thế giới. Mặc dù không có đại biểu nào đến được Hội Nghị Manila từ Nguyễn Thái Học Foundation song tổ chức này cũng đã có thư ủng hộ hội nghị và chúc hội nghị thành công.




























































































