Cô cũng cho biết cô rời Bảy Hiền vượt biên trốn chạy Cộng Sản theo gia đình khi mới lên 7 nay chả còn nhớ gì nhiều về ngã tư này, cũng như nghề nghiệp trong ngành dệt thủ công của gia đình. Cô được cha mẹ cho biết có picnic Hè của thân hữu Bảy Hiền nên năm nào cô cũng tới tham dự.
“Qua những lần tham dự này, cháu có thêm bạn, có thêm kỷ niệm về Bảy Hiền do các bạn kể lại và đặc biệt vì có thêm bạn nên cháu cũng thêm nhiều cơ hội trong công ăn việc làm trên quê hương mới. Tình cảm lưu luyến với nhau sau những lần hội ngộ của thân hữu Bảy Hiền đã cho cháu hiểu thế nào là tình đồng hương và cháu sẽ truyền dậy cho các con của cháu ngay từ lúc chúng bắt đầu nhận biết,” cô Vân tâm tình.
Sau những ồn ào vồn vã gặp lại nhau là những hoan hỉ bên một bàn tiệc dài. Bà Hoàng Hồ cùng một số chị em thân hữu vui vẻ mời chào mọi người ăn lại món ăn quê nhà mà chắc tuổi trẻ ít được biết đến từ khi ra khỏi nước. Ðó là món “Bánh Ðúc Quảng Nam.” Hai khay đựng bánh đúc Quảng Nam lớn để giữa những thức ăn địa phương miền Trung như bánh lá, bánh nậm, bánh ướt, chả giò, mì quảng…
Bánh đúc là một loại quà rất dân dã của người Việt từ Bắc vào Nam qua Trung. Mỗi miền có một cách thức nấu nướng thể hiện một hương vị riêng biệt của địa phương mình.
Bà Hoàng Hồ cho biết: “Ngoài Bắc, bánh đúc được pha chế bằng nước vôi lọc để cho bánh được săn cứng và giòn, nhưng miền Quảng chúng tôi, thay vì dùng nước vôi chắt lỏng khi quấy bột, chúng tôi dùng nước ‘tro tầu’ để có hương vị dịu hơn là dùng nước vôi. Tro tầu hiện cũng có bán tại các chợ Việt Nam ở đây.”
Giải thích về sự thưởng thức món bánh đúc Quảng, bà Hoàng Hồ nói: “Phải có món phụ gia là nước chấm thì hương vị quê nhà mới nổi bật. Nước chấm cho bánh đúc Quảng là nước tôm khô đun kỹ, hành tươi được phi mỡ cho thơm hòa trộn vào nước tôm thêm chút đường, nước mắm cho vừa miệng. Nói nghe thì giản dị nhưng thực hiện cũng tùy vào tài pha chế của các bà nội trợ.”
Không có một diễn văn chào mừng bà con đến tham dự, nhưng nhìn những thành viên trong ban tổ chức như Huỳnh Toại, Hồ Văn Ðức, Hồ Nhân, Trọng Nghĩa, Lê Bổn, Huỳnh Chiến… niềm nở đón bà con, tay bắt mặt mừng và bà con ngay từ bước chân đầu vào trại hè đã cất lên những lời thân thiết từ sự quen biết lâu năm mới thấy cái tình đồng hương Bảy Hiền sao mà thắm thiết.
Hỏi ra mới hiểu rằng tình đồng hương đó không chỉ từ “tha hương ngộ cố tri” mà từ những ngày tụ tập về miền đất Bảy Hiền lập nghiệp sau khi phải trốn chạy khỏi những vùng đất chiến tranh miền Trung. Người dân xứ Quảng đã mang theo nghề nghiệp truyền thống của ông cha là nghề dệt để sinh sống trên miền đất mới Bảy Hiền đã biến khu vực hoang vắng vườn cao su cũ thành nơi đô hội mà cứ vào dịp lễ Tết hàng năm, chen lẫn tiếng máy dệt thủ công trong các gia đình là không khí mừng Xuân qua lễ hội “cúng đình,” lễ hội Xuân truyền thống của người dân xứ Quảng. Họ đã sống, nương tựa nhau và vượt qua được mọi khó khăn, chật vật trong cuộc mưu sinh và đã hình thành nên thứ tình quê hương của thân hữu Bảy Hiền mãi cho đến nay, trên quê hương thứ ba của họ vẫn còn được truyền bá đến các thế hệ sau.



























































































































