Bùi Bích Hà
Buổi chiều Tháng Mười nắng tắt nhanh đến lạ. Gió xao xác trên những đỉnh cây thấp bên ngoài bãi đậu xe. Trong nhà hàng, những ngọn đèn vàng trở nên ấm cúng hơn tuy không xua đuổi được hết cái hiu quạnh của bàn ghế xếp gọn ghẽ chờ khách. Người đàn ông có mái tóc dường như mới mọc trở lại từ lần cạo nhẵn sau cùng, cho thấy dáng dấp của một nhà tu cùng với màu áo nâu thấp thoáng bên trong chiếc áo lạnh khoác ngoài, ngồi phía sau quầy thu ngân.
Nhóm khách 3 người bên cạnh đã ngừng câu chuyện của họ và ra về. Thức ăn đã dọn ra trên bàn của tôi. Chén súp chay khai vị với rau quả tươi thái sợi nhìn rất đẹp mắt, tinh khiết và hứa hẹn ngon. Đĩa nem nướng cuốn bánh tráng thanh cảnh với hai cuốn nem chắc làm bằng tàu hũ ky, màu nâu vàng sẫm, trông không khác gì nem mặn. Cô cháu đi cùng thong thả chấm chúng vào bát nước tương nêm ớt đỏ lừ, thong thả nhai rồi gật gù khen. Bát bún bò tôi chọn trên thực đơn thì không có cái may mắn của hai món kia vì nó không có hương vị bún bò dậy lên từ sả. Nhà bếp lại không mua rau răm để “chữa cháy.” Khách và tô bún đành nhìn nhau ứa lệ, giống như cố nhân bất ngờ tái ngộ nơi đất khách quê người song không nhận ra nhau vì thời gian đã đổi thay quá nhiều.
Áng chừng thấy tô bún chỉ vơi đi chút đỉnh, người đàn ông rời quầy thu ngân, đi những bước nhẹ nhàng đến chỗ tôi ngồi, cất tiếng bằng một giọng chậm rãi, êm ả: “Xin lỗi hai cô. Chị đầu bếp ngày thường nấu rất ngon nhưng rủi hai bữa nay chị bị phỏng dầu hai cánh tay, phải đi bác sĩ thay băng nên Thầy tạm làm thế chỗ chị. Thầy ráng lắm nhưng chắc không được vừa ý quý cô, xin thứ lỗi cho Thầy.”
Câu chuyện bất ngờ làm tôi sửng sốt. Hóa ra ông đúng là một nhà tu nhưng tại sao ông không mặc sa y mà lại đứng trông coi tiệm ăn chay giữa chợ đời này vậy?
Nhìn vào mắt tôi, có lẽ ông đoán được câu hỏi tôi không tiện nêu ra nên ông bình thản giải thích: “Thầy mới ở xa về, muốn tìm một nơi yên tịnh để tu tập. Cũng có vô chùa ở nhưng Thầy là kẻ tới sau, nhiều khi rất dễ bị ngộ nhận bởi các đồng tu tới trước nên tâm khó yên. May mắn có một Phật tử phát bồ đề tâm, cho Thầy phụ việc ở đây. Nếu thuận duyên mà mai kia mốt nọ tìm được một chỗ nho nhỏ làm tịnh thất thì phước lắm!”
Có khách mới vào. Cậu hầu bàn tới bên Thầy, nói thầm. Nhìn đôi môi cậu chúm lại, tôi đoán cậu đang phát âm mấy chữ “nấu! nấu!” Quả nhiên Thầy quày quả bước vào phía trong, hấp tấp như bất kỳ chúng sinh nào trong hoàn cảnh tương tự.
Ra về, hai cô cháu hỏi nhau: “Đã vào tu ở chùa rồi mà ngoại cảnh vẫn phong ba dồn dập, khiến tâm bất an, vậy thì phải tu ở đâu? Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề cho tới khi liễu đạo, ma vương, quỷ sứ quấy nhiễu không cản trở được Người, như vậy, đức Phật rất kiên cường hay ma vương, quỷ sứ không hung hiểm bằng thế gian?”
Nói tới đây, tôi sực nhớ cái câu hình như nguyên tác tiếng Anh, không biết đã đọc ở đâu nhưng nhập tâm, thỉnh thoảng vẫn cười cười nói với chúng bạn mỗi khi biết có một đôi đang cãi nhau: “Hạnh phúc là khi có hai người để tựa vai nhưng cũng có khi là cô đơn một mình.” Vừa rồi, tôi lại mới “thuổng” được một câu khác trên Internet, cũng rất tuyệt tác: “Không gì gần với tình yêu bằng lòng thù hận.” Biên giới giữa chúng thường mỏng như sợi tóc, nhanh như một cái trượt chân.
Câu chuyện xảy ra chưa lâu lắm, làm đau lòng giới hâm một thể thao là trường hợp của vận động viên tàn tật Oscar Pistorius 26 tuổi, gốc Nam Phi, 3 lần liên tiếp đoạt huy chương vàng Thế Vận Hội: 2004 Nhã Điển; 2008 Bắc Kinh; 2012 Luân Đôn.
Anh bị cụt cả hai chân nhưng đã tranh đua cùng các lực sĩ bình thường với đôi chân giả là 2 thanh kim loại bẻ vuông góc. Oscar Pistorius phải là một thanh niên có cá tính mạnh mẽ, biết rõ mình muốn gì và biết con đường nào dẫn tới ước mơ của mình. Anh vượt qua nghịch cảnh trong đời một cách đầy quả cảm và oanh liệt thế nhưng không vượt qua được nghịch cảnh trong tình yêu. Theo cáo trạng, Oscar đã bắn 4 phát súng xuyên qua cửa phòng tắm nhà anh, gây tử thương cho cô bạn gái xinh đẹp, Reeva Steenkamp, 29 tuổi, vừa hành nghề người mẫu vừa học và tốt nghiệp trường luật. Trước tòa, anh bị truy tố về tội sát nhân có dự mưu. Lập luận để tự bào chữa cho mình, Oscar khai anh nghi ngờ có kẻ lạ đột nhập vào nhà nên bắn để tự vệ và yên trí cô bạn gái vẫn còn ở trên giường ngủ. Nhân chứng láng giềng khai họ nghe tiếng cãi vã dữ dội trong nhà anh từ lúc chập tối trước khi có tiếng súng nổ.
Ảnh chân dung chụp vào nhiều lúc khác nhau của Oscar cho thấy anh có ánh mắt hung hãn của một người đàn ông có sức mạnh và nóng nảy. Tuy nhiên, ra tòa, có lúc anh khóc mùi mẫn như một đứa trẻ.
Dư luận cho rằng trong một đất nước như Nam Phi, cứ mỗi 8 giờ đồng hồ lại có một phụ nữ mất mạng vì chồng hay bạn tình bạo hành thì sự thực là cái đất nước ấy đã quá say sưa với chiến thắng của Oscar Pistorius đem vinh dự lẫy lừng về cho người dân Nam Phi mà sẵn sàng bỏ qua những mặt tiêu cực, những dấu hiệu bất ổn ở người-hùng- quốc-gia này: sự dễ dàng nóng giận, những cơn thịnh nộ vô lối, lời than phiền từ các bạn gái cũ và những lần cảnh sát được gọi tới để can thiệp chuyện của họ. Quan trọng nhất, thái độ không chấp nhận thua một cách hòa nhã, biểu lộ tinh thần thượng võ của một thể tháo gia chân chính. Tệ hại hơn nữa, dường như truyền thông có khuynh hướng đặt Oscar vào vị thế ngoại lệ. Khi đàn ông da màu sát hại bạn gái, người ta coi hành vi đó là cố tật gắn liền với nền văn hóa bạo động của “giống đực.” Trường hợp Pistorius, người ta nói thêm về luật súng ống lỏng lẻo và quá khứ “âm u, nhiều phiền muộn của đương sự.”
Ngoại lệ nói trên phải chăng đến từ bối cảnh khác thường của vụ án mạng, xảy ra giữa một phụ nữ da trắng và nghi phạm sát nhân có nhiều đặc quyền vì được suy tôn là anh hùng xuất chúng? Cả một núi nguồn cơn cọng với cả một chuỗi những giá trị của nền công lý hình sự sẽ hướng vào việc giải quyết vụ án, một đặc ân khó chấp nhận đối với con số hàng ngàn phụ nữ Nam Phi chết mỗi năm vì nạn bạo hành gây ra bởi nam giới.
Tuy nhiên, đó là câu chuyện của tòa án, của xã hội. Dù thủ phạm/nạn nhân được chiếu cố tận tình hay không, chỉ là cái vỏ bề ngoài. Tôi muốn đi tìm trả lời cho câu hỏi vì sao sự thành công tột đỉnh vinh quang của Pistorius đã không thực sự chữa lành được sự què quặt trong tâm hồn anh một khi sự què quặt thể xác tưởng như đã hoàn toàn được khắc phục? Hay là trong chỗ riêng tư nhất, khi bỏ quần áo và tháo đôi chân giả ra, anh vẫn thấy sự thật trần truồng mình “không giống ai,” thua kém mọi người, nên phải lấn lướt cách này hoặc cách khác để chạy trốn mặc cảm ám ảnh? Hay vì anh không thương yêu được chính mình trong cái hình ảnh “thua kém” ấy nên trong anh lúc nào cũng ngùn ngụt căm hờn? Tuy số phận đã đền bù bội phần cho anh về sự bất hạnh ban đầu nhưng anh vẫn không hài lòng và biết ơn bởi vì những nỗ lực cá nhân của anh lớn quá, nhọc nhằn quá, đau đớn quá, đã làm tâm hồn anh bầm dập, trái tim anh tan nát, cả con người anh chỉ còn là nỗi uất ức khôn nguôi lúc nào cũng sẵn sàng nổ ra?
Đã không hòa bình được thì chiến tranh là điều không tránh khỏi. Trong tình huống ấy, cùng với “nền văn hóa giống đực” của một Nam Phi cháy bỏng vì nắng xích đạo, cùng với vũ khí là ưu thế xã hội dành cho các anh hùng, anh không chỉ làm thương tổn những ai liên hệ mật thiết với anh mà còn gây thương tổn bản thân, nặng nhất với cái án tù phải trả. Xã hội tung hô, đặt anh lên ngai vàng thay vì tìm cho anh một người thực sự nhìn thấy và hiểu những vết thương thầm kín của anh, một bác sĩ tâm lý trị liệu có đủ khả năng khơi gợi nơi anh niềm tin và tình yêu chính mình để hồi phục. Lục bát Nguyễn Du vẫn đúng cho mọi thời đại vì hình như tâm sự của loài người ngàn năm trước, ngàn năm sau, có khác gì đâu? Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa.
Đánh mất bản năng yêu thương trong trái tim là đánh mất sự cứu rỗi. Tôi cũng vừa đọc được bài viết của một ông 40 tuổi, là người phụ tá ban tiếp liệu bệnh viện, có cái tên khó đọc, khó nhớ, Zarinah Idris, chia sẻ mấy điều khá ngộ nghĩnh sau khi ông từ Thái Lan trở về được ít lâu và nhận xét cuộc sống ở nơi này rất khác với nơi ông ở là Singapore. Ông dùng đại danh từ “We” trong bài viết, hẳn là muốn nói với đồng hương của mình.
Ông cho biết: “Ở Singapore, chúng ta vội vàng ngay cả lúc ăn, vừa đi vừa nói điện thoại và cùng một lúc làm đủ thứ việc. Chúng ta phàn nàn hết chuyện này tới chuyện khác thoáng qua đầu. Chúng ta mải mốt đuổi theo thời gian ngay cả khi đang ở nhà, thúc giục con cái đi ngủ sớm bởi vì hôm sau còn phải đi học. Cái gì cũng rối rít tít mù và huyên náo. Thế nhưng ở Thái Lan thì khác. Dân Thái biết thưởng thức món ăn giản dị của họ, thời giờ quý báu của họ bên cạnh người thân yêu trong gia đình. Mỗi ngày qua dù tốt hay xấu, họ đều bằng lòng với những gì có được trong ngày hôm đó. Họ có thể đứng để rao bán các món hàng của họ suốt bảy tiếng đồng hồ hay hơn nữa mà chỉ có 2 khách hàng chịu mua nhưng họ vẫn tươi cười phục vụ. Họ không may mắn như chúng ta được chính phủ bao biện các tiện nghi đời sống. Họ không là những kẻ được nuông chiều như chúng ta. Giản dị là họ được giáo dục như vậy.”
Bài viết gởi ra đồng hương của ông có hình thức một bản tự kiểm khá dài, tôi chỉ tóm lược vài điều. Ông kết luận ông cần có thái độ biết ơn trước khi những ơn huệ ấy bị lấy đi.
Riêng tôi, xin tạ ơn sự tình cờ may mắn cho tôi đọc được tâm sự của ông Zarinah Idris, là một ví dụ minh chứng phút soi lại lòng mình của một người đã thanh lọc được “những tạp âm huyên náo của một xã hội sống tất bật và vội vã” để tìm thấy hòa bình và hạnh phúc trong bản thân.

















































































