HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bộ Công Thương cho biết kể từ khi Hiệp Định Thương Mại Song Phương Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực, kim ngạch xuất cảng giữa hai nước liên tục tăng trưởng ở mức cao.
Tại “Diễn Đàn Thương Mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2019” tổ chức sáng ngày 6 Tháng Chín, 2019, ở Sài Gòn, ông Đỗ Thắng Hải, thứ trưởng Bộ Công Thương, cho biết kim ngạch hai chiều từ mức $1.4 tỷ vào năm 2001 (thời điểm trước khi Hiệp Định BTA có hiệu lực) đã lên $58.8 tỷ vào cuối năm 2018. Riêng sáu tháng đầu năm 2019, con số này đã đạt $35.4 tỷ.
Theo ông Thắng, sự chuyển dịch mạnh mẽ của chuỗi cung ứng toàn cầu thời gian gần đây đã giúp Việt Nam có bước nhảy vọt từ vị trí thứ 12 trong năm 2018, lên vị trí thứ 9 ngay trong đầu năm 2019, trong danh sách các nước “xuất cảng lớn nhất vào Mỹ.” Đồng thời, “Việt Nam cũng trở thành thị trường lớn thứ 27 và là đối tác thương mại lớn thứ 16 của Hoa Kỳ.”
Bà Mary Tarnowka, giám đốc điều hành Phòng Thương Mại Hoa Kỳ (Amchams) tại Việt Nam, nhận định xung đột thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Song, nó lại tạo ra cơ hội cho Việt Nam khi các tập đoàn quốc tế lớn phải xem xét lại chiến lược, đa dạng hóa nguồn cung cấp sản phẩm cho họ, trong đó có Mỹ.
“Hiện, xung đột có xu hướng gia tăng đã ảnh hưởng đến tất cả doanh nghiệp và cả hệ thống kinh tế thế giới. Không ai có thể dự đoán được khủng hoảng này khi nào kết thúc,” bà Mary Tarnowka nói.
Cũng theo bà Mary Tarnowka, các doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Trung Quốc bị ảnh hưởng khá nặng. Điều đó khiến họ phải tìm kiếm nguồn cung tại Việt Nam nhiều hơn khi thiếu hụt nguồn cung từ Trung Quốc. Có thể họ phải chuyển dịch các dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam, bởi Việt Nam vẫn còn lợi thế về nguồn nhân công chi phí thấp, môi trường kinh doanh, cải cách giáo dục đã phần nào đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực cho các tập đoàn quốc tế. Bên cạnh đó, các thỏa thuận thương mại của Việt Nam và các nước cũng tạo ra các hoạt động kinh doanh nhiều hơn. Việt Nam từng bước có thể tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho mình từ việc hiện đại hóa cắt giảm được các chi phí trong thương mại và từ đó tiếp cận được nhiều thị trường mới hơn.
Tuy nhiên, khó khăn hiện tại đối với doanh nghiệp xuất cảng của Việt Nam là sự hiểu biết còn ít về hệ thống luật pháp các cấp của Hoa Kỳ, xu hướng tăng cường bảo hộ thông qua việc ban hành các quy định, tiêu chuẩn mới về chất lượng, an toàn thực phẩm, nguồn gốc sản phẩm…vẫn chưa rõ ràng. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi cách tiếp cận thị trường Mỹ trong ngắn hạn lẫn dài hạn…
“Chúng tôi hy vọng môi trường kinh doanh được cải thiện nhiều hơn nữa ở các lĩnh vực, thúc đẩy phát triển thương mại giữa hai nước. Các hoạt động của Amcham nhằm thúc đẩy Việt Nam trở thành một phần trong chuỗi cung ứng toàn cầu,” bà Mary Tarnowka nhấn mạnh.
Trong khi đó, báo Người Lao Động dẫn lời bà Virginia Foote, phó chủ tịch AmChams tại Việt Nam, thẳng thắn nói: “Việt Nam không phải là đối tượng hưởng lợi trong thương chiến Mỹ-Trung. Ý tưởng của tổng thống Mỹ là mang các doanh nghiệp Mỹ trở về Mỹ chứ không phải mang doanh nghiệp Mỹ rời Trung Quốc để đến Việt Nam, Malaysia hay quốc gia nào khác. Không chỉ là trừng phạt Trung Quốc mà là dân tộc chủ nghĩa, hướng về Mỹ.”
“Tôi đã làm việc với Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) về những cơ hội có thể làm được cho những doanh nghiệp tại Việt Nam. Đừng chơi trò chơi đuổi bắt và nghĩ rằng đây là tiền dễ kiếm rất nguy hiểm, mà nên nghĩ về cục diện lớn hơn. Việt Nam vẫn còn bảo hộ nhiều nhưng tôi hy vọng các bạn không dính vào bẫy bảo hộ,” bà Virginia Foote nói thêm. (Tr.N)
[jwplayer 48SBO2vL-YzmDPLlM]









































































































































