Quán Văn (Kỳ 372)

Thân phận con người

Vũ Đông Hà 

Xin mời quý vị đọc bài viết dưới đây của Vũ Đông Hà, để xót thương cho thân phận của đồng bào thân yêu ở quê nhà, nay dưới ách cai trị của bọn Cộng Sản Việt Nam…(BMH)

Tôi gặp các bạn trong một quán nhỏ tại Đài Loan. Quán không mang tên là quán chửi nhưng rộn ràng cả quán là những tiếng chửi thề. Giọng chửi Long An, Cần Thơ, Rạch Giá của miền Tây hiền hòa sang đến Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình khô cằn sỏi đá. Và toàn là giọng nữ. Họ là những cô dâu, ô sin, lao động chính thức, lao động chui, lao động bằng tay chân, lao động bằng thể xác. Những thiếu nữ 16 cho đến ngoài 30 đã làm nên một tầng lớp người Việt Nam lạ lẫm ở xứ người: những nô lệ của thời đại mới.

Nếu bạn muốn tìm kiếm một thiếu nữ đoan trang, thùy mị để ăn khớp với hình ảnh một con người đầy thương xót trong lòng bạn, bạn sẽ thất vọng. Đây là những con người sinh ra và lớn lên trong cái máy nghiền nát tâm hồn của Cộng Sản. Và những cay đắng, tủi nhục dày xéo thêm lên cuộc sống của họ ở xứ người đã biến họ thành những con người chai đá, bất cần và nổi loạn. Ở họ, từ những tiếng chửi thề rổn rảng, đã toát lên thái độ sống của 2 câu thơ từ một nhà thơ mà tôi không biết tên: “Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng/ Đ. mẹ đời đ. má tương lai…”

Những con số lạnh lùng

Năm 2017, trên134,000 món hàng người được xuất khẩu, vượt kế hoạch 28.3%. Năm 2018, 142,000, vượt 30% so với kế hoạch. 6 tháng đầu năm 2019, gần 67,000, đạt 55.82% kế hoạch nguyên năm. Tính chung từ năm 2006 đến nay, đảng và nhà nước CSVN đã xuất khẩu hơn 1 triệu món hàng bằng xương bằng thịt được dán nhãn “lao động made in VN.” Đây là những con số chính thức do Thứ Trưởng Bộ Lao Động Thương Binh & Xã Hội Nguyễn Thị Hà báo cáo tại hội nghị truyền thông về xuất khẩu lao động vào đầu Tháng Mười, 2019.

Hơn 1 triệu người. Mỗi người đóng ít nhất $5000 thì chính sách “Xuất khẩu lao động là thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương” đem về cho công ty buôn dân có trụ sở chính ở Ba Đình là $5 tỷ. Chừng đấy người sau đó gửi tiền về nước, con số cũng lên đến cả hàng chục tỷ đô trong hơn 1 thập niên qua.

Trong con số 1 triệu người đó không có những người đi chui, những xác người bị chết trên xe hàng, xe tải, chết bờ chết bụi trong rừng, chết không còn nội tạng bên Tàu, chết nhưng vẫn còn thở trong các ổ chứa mà không ai biết, không bao giờ có được con số thống kê chính thức.

Tổng cộng là bao nhiêu người? 1 triệu hay 2 triệu hay… Tổng cộng là bao nhiêu tiền? 10 tỷ, 100 tỷ hay… Chỉ biết là rất nhiều, rất vĩ đại, rất hoành tráng: xuất khẩu con người phải là đại chính sách, là nhiệm vụ chính trị của chế độ.

Những con người đa dạng

Những người bạn trong quán “chửi” ở Đài có người nằm trong con số 1 triệu của bà thứ trưởng Bộ LĐTB&XH. Có người không. Nếu bạn chỉ gặp họ trong một khoảnh khắc, bạn sẽ lắc đầu ngao ngán và gắn cho họ là phường hư đốn, thô tục đến cực kỳ.

Bạn cũng có thể “gặp” những người khác trên các bản tin, bài viết về những người Việt ăn cắp, đĩ điếm, buôn lậu, hành nghề phi pháp ở xứ người và xem đó là nhục quốc thể. Những chuyện đó, những con người đó là có thật.

Nhưng không phải tất cả 1 triệu người. Tôi không thể nói được có bao nhiêu con sâu trong nồi canh Việt Nam tha phương cầu thực ở xứ người vì tôi không là nhà thống kê. Từ những người được gặp và qua họ, tôi biết rất nhiều và rất nhiều những con người Việt Nam chỉ biết đem mồ hôi và nước mắt của mình đổ ra ở xứ người, ngày đêm âm thầm chăm chỉ cày bừa, cắn răng chịu đựng để nuôi dưỡng ước mơ của mình và cho gia đình họ còn ở lại bên kia, “thiên đàng Cộng Sản.”

Một con người và một giấc mơ

Tối về trong căn nhà trọ, không còn là những con số, không còn là những bản tin. Trước mặt tôi là những con người. Các bạn nhỏ đã cởi bỏ mặt nạ ban ngày và mở lòng tâm sự. Trước mặt tôi là cô gái Long An hiền như lúa, người phụ nữ Nghệ An chân chất đồng ruộng và những con người Việt Nam nghèo xơ xác. Nhưng có một thứ  họ rất giàu: Ước Mơ. Tôi không tìm thấy ở họ hình ảnh đứa cháu ngoan bác Hồ như một bạn thú nhận, một đoàn viên Đoàn Thanh Niên Hồ Chí Minh một thời hung hăng khắp trường khắp xóm, hay một tín đồ Công Giáo thuần thành bây giờ chửi thề ngọt như mía. Ở họ tôi chỉ thấy một điều tha thiết duy nhất: Ước Mơ.

Để đạt được ước mơ, mỗi người bạn nhỏ ấy đã đánh mất rất nhiều thứ. Gia đình, người yêu, phẩm giá và ngay cả trinh tiết. Cuộc đời có thể lên án họ nhưng họ chỉ phải bị mất phẩm giá của mình chứ không đi chà đạp nhân phẩm người khác, họ bị cướp đi trinh tiết của mình nhưng họ không hề đi cưỡng đoạt trinh tiết của người khác. Họ mất rất nhiều chỉ để mong tìm được điểm đến sau cùng của ước mơ. Ước mơ của họ, một con người của họ gom lại làm nên con số 1 triệu món hàng người xuất khẩu của chế độ.

Cuộc đời này xin cám ơn nhau

Trước mặt tôi là một cô gái mới 17 tuổi. Trên giấy tờ em phải khai là 18 khi em chỉ tròn 16 lúc còn ở Việt Nam để “được” làm “cô dâu Đài Loan.” Mọi câu hỏi như tại sao em ra đi, những phán đoán vì sao em ra nông nỗi này, sao bây giờ em đi làm gái bán thân… đều vô nghĩa trước dáng người bó gối, co rút và khuôn mặt đẫm nước mắt của em.

Trước mặt tôi là một người Việt Nam. Không! Hơn thế nữa. Trước mặt tôi phảng phất hình ảnh của con gái mình – lúc ấy con gái tôi mới 13. Tôi nhớ đến giây phút con gái cất tiếng chào đời và nghĩ đến cha mẹ của em. Chắc chắn cha mẹ em khi ôm con vào lòng không bao giờ nghĩ có ngày con gái mình 16 tuổi phải bôn ba xứ người lấy chồng già Đài Loan, 17 tuổi bỏ trốn và đi làm gái. Và tôi, nếu vì định mệnh vẫn sống tại một nơi nào đó ở Tây Ninh, Rạch Giá hay Nghệ An, Hà Tĩnh thì có gì bảo đảm đứa con gái thương yêu của mình sẽ không cùng số phận với em nhỏ này, với những em nhỏ mà tôi đã gặp ở Chung Li, Svay Pak, Siem Reap…? Có gì bảo đảm rằng con gái của tôi sẽ không ban ngày chửi nát cuộc đời và ban đêm khóc nát lòng mình?

Từ người con gái 17 tuổi và buổi tối nhiều nước mắt ấy, tôi đã tự nhận ra rằng những điều về lý tưởng, về lòng ái quốc, về lịch sử ngàn năm, về con đường yêu nước trong tôi từ trước chợt trở nên mơ hồ và dường như vô nghĩa. Từ những con-người-có-thật này, từ cô gái ban ngày chửi thề ban đêm khóc thầm này, tôi nhận ra và biết rõ mình sẽ làm gì trong nửa đời sau. Họ là những người mà tôi phải cám ơn. Cuộc đời cay đắng và nhiều khi còn bị phê phán của họ lại chính là nguồn cơn và động lực giúp tôi biết sống một cuộc đời có ý nghĩa.

***

Đêm nay.
Con của Mẹ 18
ngồi bán mực nướng ở quán bia Xiêm Rệp
lẻo đẽo trước tiệm uốn tóc làng Việt Nam – Svay Pak
mời khách mua dâm
mặc váy ngắn đứng bán trầu
trong những lồng kính đèn màu đêm Taoyuan.
co mình nằm dưới người đàn ông không răng
ở con hẻm Chung Li. 

Đêm nay.
những đứa con của Mẹ,
tuổi con gái không chồng,
ôm mơ ước về những đứa con đừng bao giờ có
để không bao giờ chết
như đời Mẹ đang chết bây giờ…
 31.10.2019

(Nguồn: ‘BMH’ via Phụng Sự Xã Hội: [email protected])



Ngôn sử

Vô Danh

Hắn đem gia đình sang du lịch Paris. Khi hắn vừa tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa thì miền Nam thay đổi chế độ, và mọi người trở thành thất nghiệp. Hắn may mắn thừa hưởng một miếng đất rất rộng ở ngay ngoại ô Saigon, hắn canh tác miếng đất đó, trồng rau quả, nuôi gà vịt, mở một quán cà phê nhỏ để sống qua ngày. Thì giờ rảnh rỗi hắn nghiên cứu về một môn học mà hắn gọi là môn “ngôn sử.”

Hắn nói ngôn sử tiếng Pháp là philologie, tôi chẳng hiểu gì cả. Hắn giải thích đó là môn học nghiên cứu lịch sử, cấu trúc và cách tạo thành của ngôn ngữ. Tôi vẫn mù tịt. Năm 1980, hắn nhờ tôi tìm mối bán nhà và đất lấy mười lượng vàng vượt biên. Tôi tìm không ra, và hắn ở lại. Không ngờ như thế mà lại may. Gần đây nhà đất vùn vụt lên giá, hắn bán một phần khu đất và trở thành triệu phú đô la. Hắn bảo tôi:

-Bôn ba không qua thời vận. Mày xông xáo như thế mà cuối cùng lại chẳng ra gì so với tao. Cái nhà mày hơi bị nhỏ đấy. Tao là một sản phẩm của tệ đoan xã hội. Chúng nó ăn hối lộ và buôn lậu, nhiều tiền bẩn quá phải mượn chuyện mua nhà đất để tẩy rửa, nhờ thế mà tao giàu sụ. Tao bán hơn năm ngàn mét đất được vài ngàn cây, sau khi lịch sự mất vài trăm cây.

-Lịch sự?

-À, đó là một tiếng mới (hắn cười to). Bây giờ người ta không nói là đút lót hay đưa hối lộ nữa, xưa rồi! Bây giờ người ta nói là “lịch sự.”Lịch sự trở thành một động từ. Làm cái gì cũng phải lịch sự mới xong; không biết lịch sự thì không sống được. Tao nhờ một thằng bạn lanh lẹ lịch sự giùm mới bán được miếng đất đấy. Thằng bạn nhờ đó được một trăm cây tiền lùi.

-Tiền lùi?

-Đó cũng là một từ; mới nữa. “Lùi”có nghĩa là tiền mà kẻ được lịch sự bớt cho, còn gọi là tiền lại quả, cũng một tiếng thời thượng mới. Nó đi năm trăm cây nhưng lùi cho một trăm cây.

Hắn tặng vợ tôi một cái túi xách tay Louis Vuiton và nói đó là là một túi mố. Hắn giải thích “mố”cũng là tiếng mới xuất hiện, dùng thay cho “thời trang,” hay “mốt” trước đây. Hắn cho tôi một sơ-mi lụa và nói đó là lụa thực chứ không phải lụa đểu.

Tôi hỏi lụa “đểu” là gì thì hắn phá lên cười:

-Mày lỗi thời quá rồi… Bây giờ trong nước người ta không nói là “giả” nữa mà nói là “đểu.” Hàng đểu, bằng đểu, rượu đểu, thuốc đểu, người đểu.

Sực nhớ ra hắn là một nhà ngôn sử, tôi bèn hỏi hắn:

-Thế mày nghĩ gì về những từ mới này?

Hắn bỗng trở thành nghiêm trang, trầm mặc một lúc rồi nói:

-Ngôn ngữ của dân tộc nào cũng gắn liền với lịch sử. Cái gì thường trực và lâu dài cũng trở thành ám ảnh, rồi đi vào ngôn ngữ. Mày thử xem, ngôn ngữ của nước nào cũng xoay quanh hai từ “có” và “là,” avoir và être, to have và to be.

Người Việt thì không có gì cả mà cũng chẳng là gì cả, chỉ có cái thân phận nô lệ, bị bóc lột và đói triền miên, vì thế mà động từ căn bản của tiếng Việt là “ăn.” Thắng bại thì gọi là ăn thua, thằng nào thắng thì có ăn, thằng nào thua thì đói; Sinh hoạt nghề nghiệp thì gọi là làm ăn, Vợ chồng ăn ở, ăn nằm với nhau. Nói chuyện là ăn nói, rồi ăn ý, ăn ảnh, ăn khớp… Ngay cả lúc chửi nhau cũng cho ăn cái này cái kia, Rủa nhau là đồ ăn mày, ăn nhặt, ăn cắp, ăn giật. Cái gì cũng ăn cả vì đói quanh năm, lúc nào cũng bị miếng ăn ám ảnh.

Bây giờ cũng thế, cái gì cũng đểu cáng cả. Chính quyền đểu, nhà nước đểu, nhà trường đểu… Cái gì cũng đểu cả nên “đểu” hiện diện một cách trấn áp qua ngôn ngữ.

Hắn dừng lại một lúc rồi nói tiếp: Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. Riêng Việt Nam chúng ta còn có thời kỳ đồ đểu. Nước mình đang ở thời kỳ đồ đểu.

(Nguồn: [email protected]; qua Ngu Vu: [email protected])


Ngôn Ngữ Xanh

Thơ @ Nguyễn Thị Khánh Minh

Văn Học Press xuất bản, Tháng Chín, 2019

206 trang, giá bán $18.00

Tìm mua trên: Barns & Noble

Search Keywords: Ngon ngu xanh

Hoặc bấm vào đường dẫn:

https://www.barnesandnoble.com/w/ngon-ngu-xanh-nguyen-thi-khanh-minh/1133413547?ean=9781078714891;

“Đây tác phẩm thứ 12 của Nguyễn Thị Khánh Minh: Ngôn Ngữ Xanh. Độc giả trong những năm gần đây có lẽ không còn xa lạ gì với tên tuổi Nguyễn Thị Khánh Minh, người có sức sáng tạo rất sung mãn, gần như mỗi năm đều có một tác phẩm mới ra đời… Khác với các tác phẩm trước trong đó Khánh Minh chọn thể loại Thi, Tản Văn, hay là Tản Văn Thi để nói về các chủ đề khác nhau của Thi Ca như: Ký Ức, Bóng, Giấc Mơ,…  Lần này trở lại với độc giả qua tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh, chủ đề được NTKM chọn lại chính là Thi Ca, hay nói cách khác, chủ đề của Ngôn Ngữ Xanh là: Thơ về Thơ.

Gói ghém trong tập Ngôn Ngữ Xanh này là cái nhìn và quan niệm (rất riêng tư) của NTKM về Thi Ca. Chính cái nhìn và quan niệm thi ca này là nguồn sáng tạo cho các tác phẩm trước đây của NTKM, lần đầu tiên sẽ được KM bày tỏ cùng độc giả qua tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh. Vì thế tập Ngôn Ngữ Xanh, mà thực chất là “Thơ về Thơ” không phải là một lối chơi chữ, vì suy cho cùng chủ đề cao tột nhất của Thi Ca chính là Thi Ca. Khi tác giả sáng tác những bài Thơ về Thơ, đó chính là Thi Ca đang thực hiện việc “Phản Quan Tự Kỷ,” hay trong tiếng Anh gọi là “metapoetry.” “Phản quan tự kỷ” hay “metapoetry” chính là hình thức tư duy cao tột nhất, nó xô đẩy tư tưởng đi hoang đến những ranh giới chưa từng được khám phá. Nó đòi hỏi một thái độ thích hợp, “với tâm trạng vừa an lòng vừa rụt rè mạo hiểm, vừa háo hức như lúc nào cũng ở điểm bắt đầu…” (trích THƠ VỀ THƠ: Ở ĐÂU MỘT ÁNH MẮT ĐỂ CÓ NGÔN NGỮ XANH?, Tô Đăng Khoa viết cho Tựa, trang 13-14)

“Cuối năm, được người bạn thơ, nữ thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh tặng cho một bài thơ hay, không sung sướng sao được? Một món quà tặng thật ý nghĩa.”

Thơ Khánh Minh bao nhiêu năm rồi vẫn như thế, thi ngôn nền nã, sáng đẹp, thi tứ trữ tình, lãng mạn, đậm buồn, giàu thi ảnh, tràn đầy cảm xúc, và luôn luôn có những biến ảo lạ lùng trong ngôn ngữ khiến thơ như chắp cánh bay cao và bay xa trong những chiều kích khôn cùng. Nhan đề bài thơ là “Phố rất xa.” Hiển nhiên, nhà thơ muốn nói về miền đất quê hương của quá khứ, xa lắm rồi, bây giờ chỉ còn mơ hồ hiện về trong tâm tưởng những lúc ngồi cô độc nhìn mảnh trăng non vừa nhú. Thế nhưng suốt bài thơ, tôi không thấy Khánh Minh nói gì về mảnh đất xa xôi ấy, tuyệt đối không, một dấu vết mờ nhạt cũng không thấy, mà chỉ là nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của một tâm cảnh trong lúc nhìn trăng lên. A! Phải chăng đấy cũng là tâm cảnh cho một tứ thơ sầu vạn cổ, “Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương?” Nhưng câu chữ của Khánh Minh ở bài thơ này đã làm người đọc tôi rụng rời để nghiệm ra cái tứ thơ sầu vạn cổ ấy ở bất cứ thời-không-gian nào cũng khiến con người có cơ hội sống thật với hiện thể và bản thể của hắn.

“Tôi ngồi cong mảnh trăng non”

Trời! Làm sao có thể cảm nhận được hiệu ứng của từ “cong” trong câu thơ? Như được phả bùa phép, cảm xúc từ câu thơ như được đẩy tới một biên vực mới. Tôi ngồi cong người nhìn trăng, hay trăng thượng huyền cong cong nhìn tôi? Có lẽ chẳng cần thiết phải biện biệt như thế, bởi cái nhị đối trở thành cái nhất nguyên và tôi đã tìm về cái tôi trong suốt…” (trích VỀ BÀI THƠ ‘PHỐ RẤT XA’ CỦA NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH, Trịnh Y Thư viết, trang 193-194)



Thơ Lê Minh Hiền

Người ơi!

Mây giăng bên nầy
về mưa bên ấy
gởi hạt ân cần
thăm người năm cũ
gởi hạt mưa gầy
rơi trên má ai
đường xưa chợ huyện
người ơi khó quên
dặn lòng không nợ
sao hoài vương tơ
mưa nào không buồn
tình nào khó quên
tôi qua xứ người
tóc đời mấy sợi
tình đầu khó phai
nhớ người người ơi!
(california usa oct. 8th 2017)

Tháng Mười hoang tưởng

Tháng Mười bình yên tháng hiền hòa
anh vẫn ngồi đây em đã xưa
mưa mãi trên ngàn mưa còn ngủ
đêm sẽ buồn hơn… đêm có mưa
còn bao nhiêu lần những nửa đêm
còn bao nhiêu lần anh vắng em
nằm lại cuộn dài trong mền ấm
café nguội dần phòng rất thơm
tinh thể say say ta là ai
người xưa mơ tưởng chuyện liêu trai
ta mơ thấy em trong giấc mộng
trong giấc miên trường… em là ai
từ thủa nguyên xuân hồn nguyên sơ
đời thêm một lần đêm bơ vơ
đêm qua ước gì ngàn đêm lẻ
một thoáng huy hoàng dẫu chiêm bao
uống tiếp ly café dở dang
café lạnh ngắt ngộ vô thường
sáng nay vô thức về cố quận
từ giọt cuối cùng thấy cố hương
đưa xe xuống phố bàn tay buồn
(bàn tay còn thừa trong túi ngoan) hoang tưởng em chờ nơi hò hẹn
ngày tháng cuộn tròn thương nhớ thương
sẽ kể em nghe chuyện chúng mình
môi em ngon mắt láy lay ngoan
mùa xưa mắt nai huyền ngơ ngác
hoang tưởng lá vàng chuyển sang xanh
tháng mười khởi sự mùa ái ân
hoang tưởng quán nhỏ mình bên nhau
chớm thu đã mong mùa xuân đến
mưa vẫn trên ngàn đông sầu đâu
(stanton californisa usa oct. 05th 2019)

Em qua đời anh

Em qua đời anh
nõn nà mộng mị
ửng hườm nguyên sơ
ta thu chín đỏ
xám mùa sầu đông
trở mình hoang dại
sá gì vàng phai
tình xưa chín rục
mùa yêu còn chờ
trưa nay hồng thủy
em qua lụng là
một giấc liêu trai
giật mình còn ngỡ
một tòa trong tay
trái mùa nẫu ruột
yêu đương lạ lùng
có cơn bão rớt
xuống ta hôn hoàng
từ trong tiềm thức
giữa màu hoàng hôn
tiếng lòng ấm ức
lời thơ vô tình
cõi ta dang dở
em như rượu nồng
ta thì lãng tử
đêm về còn say
(stanton california usa sept 28th 2019)

tương tư Thu

sớm…
bước xuống…
hình như
Thu!
mùa vàng mới
trong tinh mơ
nghe lành lạnh tràn về
nhớ quá chừng
em
nóng hổi ngọt thơm

anh
ôm trọn ngu ngơ
về thơ dại

chút… mỏng buồn
vun dày
theo ngày tháng
mộng tàn canh
ngơ ngác vạn kỷ sầu

cố hương
xa vạn dặm
em
đâu phải nghìn trùng
Thu
có về sáng nay
anh
rồi cũng luân hồi!
(california stanton, sept. 17th 2019)

có bao giờ

khung cửa hẹp khép những ngày mưa nhẹ
của bóng mây nên chiều ấy dở dang
ngỡ tiền thân này mắt môi tinh thể
mãi chiều nay còn rung động mây ngàn

đêm thèm mưa đêm trở mình chờ đợi
ta thèm yêu khao khát một vòng tay
và tầng cổ dậy thơm mùi con gái
giòng thời gian đang trôi nhẹ đâu đây

ngày tháng mới đi qua ngày tháng cũ
ngàn năm sau sỏi đá lại nguyên sinh
cõi trăm năm mù xa hồn thơ dại
có bao giờ em con gái yêu anh
(stanton california, sept. 15th 2019)

dường như tháng 9
(tặng cô giáo Lê Thị Ninh)

dường như 4 mùa trong tháng 9
có hạ hườm chín rục
có thu vàng sân trường
có đông ngâu chung thủy
và xuân hồng đâu đây

dường như nghe trong ta thật lạ
gặp em về sáng nay
ngỡ chạm đóa lụa là
ừ… vì lâu mình không gặp
tháng 9 chợt dễ thương

dường như trong em có gì vui
nụ hôn mùi hè muộn
còn vướng trên tóc huyền
sáng mai vào trường cũ
em, cô giáo thật hiền
tháng 9 thật dễ thương!
(stanton california, sept. 03rd 2019)

xin em…

xin em vơi một chút buồn
vơi một chút nhớ chút thương chút sầu
bụng yêu càng đậm càng đau
trở mình ru giấc mộng đầu đã xa
rót đầy một chén quan hà
bốn ngàn năm lẻ lạc qua xứ này
đêm về đọng giọt ngàn mây
buông tay rụng xuống tháng ngày phù vân
(stanton california, aug. 25th 2019)

(Nguồn: [email protected])



Thơ Nguyễn An Bình

Mùa thu, ngồi bên chân cầu cũ

Về đây ngồi lại chân cầu cũ
Chỉ thấy một trời hoa nắng rơi
Mấy chiếc lá vàng còn sót lại
Có hiểu giùm ta giây phút thôi.

Con sông ngày ấy giờ trơ đáy
Cúc của đường mơ đã tàn chưa?
Sao thấy mùa thu trôi mải miết
Bên bờ lau trắng của ngày xưa.

Nước đã cạn nguồn từ lâu lắm
Em có chờ đuổi bóng hoàng hôn
Mắt dõi cánh chim bay viễn xứ
Đâu khói quê nhà ánh chiều buông.

Ngan ngát tỏa hương mùa dâu chín
Qua thời xuân sắc đã vàng phơi
Ngực có còn thơm – trăng thiếu phụ
Suối tóc huyền xưa đã chìm trôi.

Về đây ngồi lại chân cầu cũ
Em có cùng ta ngắm sao rơi
Lắng nghe tiếng sóng từ sâu thẳm
Reo từ sỏi đá chút niềm vui.
24/9/2019

Chạm

Khẽ chạm vào nỗi nhớ
Nhớ cuộn thành mây trôi
Tôi một mình lẻ loi
Vô tình bay đi mất.

Khẽ chạm vào ánh mắt
Mắt biếc thật kiêu sa
Áo hồng thời rất xa
Thu vàng đi quá vội.

Khẽ chạm vào tóc rối
Tóc buồn đành chẻ hai
Ngọn vơi đi từng ngày
Ngọn lụn tàn đêm tắt.

Khẽ chạm vào môi người
Môi mềm hương con gái
Nồng nàn thơm hoa cải
Ngọt cả một đời sau.

Khẽ chạm vào tim nhau
Ngực non thành gai nhọn
Sá gì thân hèn mọn
Chết như loài cỏ hoang.

Khẽ chạm vào thời gian
Cháy bùng thành ngọn lửa
Thiêu rụi cõi hồng hoang
Thiên thu đành khép cửa.
22/9/2019

(Nguồn: sangtao@org)



Thơ Nguyễn Minh Phúc

Mùa thu vàng phương khác

tôi đánh thức mùa thu về lần nữa
chỉ lá rơi và nắng đổ nghiêng chiều
em xa quá một phương nào mê mải
mùa thu vàng chạm nỗi nhớ cô liêu

nắng đã úa một phương trời xa cũ
buổi người đi bỏ lại giấc mơ buồn
thôi đành vậy tàn mùa hoa héo nụ
còn lại chiều từng vạt gió bâng khuâng

tôi sẽ nhớ như đã từng ngồi nhớ
những chiều vàng rơi giọt nắng qua song
sẽ ngùi ngậm thương chuyện tình dang dở
như người đi bỏ lại vết lăn trầm…

phương xa đó nắng có vàng như lụa
giữ tôi giùm năm tháng đã đi hoang
chắc rồi thu chẳng bao giờ về nữa
khi mình tôi nhặt chiếc lá thu vàng….

Nằm mộng dưới hoa

lời yêu đã trót đong đầy
tình là cơn mộng từ ngày yêu em
từ cơn mưa nhỏ êm đềm
tôi về mang trái tim mềm tương tư

ru em bầy sẻ hiền từ
hàng cây đổ bóng gọi mời chân qua
vai ngoan gót mỏng chân ngà
vườn khuya trăng đổ đôi tà lụa bay

bồi hồi hơi ấm vòng tay
vai ngoan đợi gió đong đầy yêu thương
gửi tình về với mù sương
chìm trong nỗi nhớ hồn vương mắt người

hồn tôi gửi đóa môi cười
đêm về nhặt khẽ một trời ái ân
nầy em ngực ngải môi trầm
có hay tôi mộng nghìn lần dưới hoa

(Nguồn: sangtao@org)



Thơ Phạm Hồng Ân

Nhớ một dòng sông

sáng nay tôi nhớ một dòng sông
dòng sông mang tên chín con rồng
vẫy vùng đưa nước ra biển mẹ
biểu tượng Rồng Tiên: tên Cửu Long.

sáng nay tôi nhớ mùa nước nổi
tôm cá theo sông, tràn ngập dòng
phù sa trườn sóng nằm phơi phới
bồi những phì nhiêu xuống ruộng đồng.

tôi nhớ em như hoa bông súng
nắng Cồn Dơi hây hây má hồng
lưới tôi trĩu cá nằm phơi bụng
ngó bóng em chèo bỗng thấy thương.

quê tôi điên điển mọc đầy sân
bông vàng hoe khoe sắc trường giang
hồn nước nằm trong từng khói nước
từng khúc sông chia mấy cụm làng.

giữa đêm trăng lấp lánh ngư thuyền
tiếng hò ai cất giọng đưa duyên
âm thanh xé rách trời u tịch
lóe sáng trong tôi một dáng tiên.

sáng nay sông bước vô mùa lũ
sao nước trên nguồn vẫn bặt tăm?
bờ bãi tan hoang ngàn dấu lở
cạn dòng trơ đáy rất thương tâm.

sáng nay tôi nhớ một dòng sông
dòng sông mang tên chín con rồng
còn đâu mùa nước ra biển mẹ
chết một dòng sông tên Cửu Long.
(12/09/2019)

(Nguồn: sangtao@org)



Thơ Phùng Hiếu

Này cô

Này cô tình có bán không?
Tôi mua mua cả long đong cô à
Đời cho đâu mấy thật thà
Tôi mua, trả góp đến già cô ơi

Đời tôi cũng lắm chơi vơi
Đời cô chắc cũng lả lơi nhiều rồi
Nhân tình bạc bẽo ôi thôi
Đời còn lại chút bồi hồi cho nhau

Cau già, trầu cũng nát nhàu
Quệt vôi khéo cũng thắm màu thanh xuân
Này cô xin chớ bâng khuâng
Bán đi kẻo nửa chừng xuân không còn!

Em mang mặt trời đi

Em mang mặt trời đi mất
Bình minh, hoàng hôn một màu
Con sông lười không muốn chảy
Lờ đờ màn đêm chậm trôi

Em mang mặt trời đi mất
Vực sâu không thấy đỉnh đồi
Chỗ trũng đong đầy nỗi nhớ
Tràn bờ biệt khúc: tìm nhau

Em mang mặt trời đi mất
Mùa thu lá chỉ một màu
Đâu còn chồi non xanh biếc
Vàng rơi, vàng rơi… chơi vơi

Em mang mặt trời đi mất
Bình minh anh khẽ cựa mình
Vùi đầu vào miền ký ức
Ai ngờ đêm tới, em ơi!

Bàn tay

Có thể bàn tay người ấy ấm hơn anh
Nên em buông tay, nắm bàn tay người khác
Cũng có thể cả hai ta lầm lạc
Cầm lộn bàn tay – tuổi trẻ không quay về

Bởi trên đời cả triệu bàn tay đong đưa
Sẽ có một bàn tay trở nên thừa thãi
Một bàn tay đưa ra, một bàn tay rút lại
Chẳng thể giữ được nhau năm ngón buông dần

Rồi một ngày mình trở thành người dưng
Bàn tay vuốt tóc nhau, xin bàn tay đừng khóc
Dù một bàn tay sẽ trở nên đơn độc
Mười ngón tay đan…
Chừ năm ngón dại khờ!

Ðừng!

Đừng nhìn tôi như thế
Xin mắt em đừng cười
Xin mắt em đừng nói
Tôi nghĩ về xa xôi

Em hồn nhiên con gái
Tôi ma lanh ái tình
Nhiều khi em nhìn vội
Tôi tưởng em nhìn tôi!

Đời vốn quay cuồn cuộn
Vướng nhau một cái nhìn
Có khi là mắc nợ
Suốt cả đời em ơi!

Đừng nhìn tôi như thế
Đừng mỉm môi thật thà
Tôi là tên láu cá
Với nụ cười xấu xa.

(Nguồn: [email protected])


Tôi là… người khác

Trần Doãn Nho

Tất cả những di dân từ mọi phương trời, khi đến Mỹ, họ đều lần lượt được đổ vào cái được gọi là “The Melting Pot,” một nồi nấu hỗn hợp để, sau một thời gian “đun sôi,” trở thành một công dân mới.

Nhóm chữ “The Melting Pot” xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ 18, là ẩn dụ ám chỉ những thành phần khác nhau “hòa tan vào nhau” (melting together) trong một toàn thể hòa hợp (harmonious whole). Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, ẩn dụ này mới được sử dụng một cách phổ biến để diễn tả ý niệm đó (hòa tan văn hóa và chủng tộc) trong một vở kịch có cùng tên do Israel Zangwill (1864-1926) sáng tác và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1908 ở New York. Dựa trên câu chuyện tình Romeo và Juliet của William Shakespeare, vở kịch kể mối tình trắc trở của một di dân Do Thái từ Nga với một cô gái Nga theo Chính Thống Giáo Hy Lạp. Họ vượt qua những trở ngại về chủng tộc và tôn giáo để cuối cùng được sống hạnh phúc với nhau. Vì thế, theo tác giả, “Hoa Kỳ là Thử Thách của Thượng Đế, cái Nồi Nấu Tan Chảy vĩ đại, nơi mà tất cả những chủng tộc của Âu Châu tan chảy ra và kết hợp lại.” (America is God’s Crucible, the great Melting-Pot where all the races of Europe are melting and re-forming). Trong câu trích dẫn này, tác giả chỉ đề cập đến người đến từ Âu Châu. Sở dĩ thế là vì, tác phẩm được viết ra vào đầu thế kỷ thứ 20, thời điểm mà dân Hoa Kỳ đang có sự kỳ thị chống lại các sắc dân Phi Châu và Á Châu, hơn nữa, vốn là người Do Thái gốc Anh nên không lạ gì, Israel Zangwill chỉ đề cập đến sự hội nhập của người Âu Châu da trắng. Tuy nhiên về sau này, khi Hoa Kỳ mở cửa tiếp nhận di dân từ khắp nơi trên thế giới, “Melting Pot” được dùng để chỉ sự hội nhập của mọi sắc dân. Zangwill kết luận vở kịch bằng cách mong muốn, “Hòa bình, hòa bình cho tất cả hàng triệu đứa trẻ sẽ được sinh ra, mà số phận của chúng là trám đầy lục địa vĩ đại này. ”

Từ đó, về phương diện lịch sử, “The Melting Pot” có nghĩa là sự đồng hóa của người di dân vào Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, hoặc về chủng tộc (hôn nhân hợp chủng) hoặc về văn hóa. Trong lúc sự hợp chủng thường không mấy phổ biến, nên hầu như ý niệm này được hiểu là sự đồng hóa về mặt văn hóa (cultural assimilation). Di dân, một khi đã đến Mỹ, sẽ mất đi hoặc bị yếu đi căn cước tôn giáo và văn hóa riêng của họ để hội nhập vào văn hóa Mỹ.

Tóm lại, dù hình ảnh cái nồi nấu như được minh họa trong tấm tranh quảng cáo kèm theo bài viết này trông có vẻ “dễ sợ,”thực ra, “The Melting Pot” cho ta một cái nhìn lạc quan về chuyện hội nhập. Thế nên, là di dân, cũng như mọi người, ngay lúc vừa đến Mỹ, tôi hăng hái và thích thú tự lùa mình vào “the Melting Pot” để được trộn chung với mọi người, với hy vọng nhanh chóng hội nhập, hay nói cho có vẻ triết lý một chút, hóa thân thành một người… Mỹ. Nghĩa là americanize, biến thành Mỹ. Là không còn Việt Nam nữa (!). Nói tiếng Mỹ, làm như Mỹ, ăn, chơi kiểu Mỹ, tiêu tiền kiểu Mỹ, lịch sự kiểu Mỹ,… tóm lại đi, đứng, nằm, ngồi vân vân và vân vân đều y như Mỹ. Hồi trước khi còn ở Việt Nam, dù thân Mỹ, thích Mỹ đến mấy, mà nói như thế là xúc phạm. Nhưng qua đây rồi, nói như thế lại nghe khác hẳn, là văn minh, là phải đạo. Ấy thế mà rồi có lúc, nói thật, bỗng như có cái gì làm khựng lại. Mọi điều không dễ dàng và đơn giản như mình tưởng. Trong quá trình hóa thân, dường như ai cũng chịu một phản động lực: chống cự lại sự hóa thân. Nói cho hình tượng một chút, dù vui thích được nằm chen chúc nhau trong “the melting pot,”dường như ai cũng ít hay nhiều cố vùng vẫy ngoi ra ngoài để khỏi… ngộp! Có khi, còn muốn nhảy luôn ra khỏi cái “melting pot.”

Đó là song quan luận của người di dân, ngay cả đối với những người thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Chả thế mà tôi, thế hệ di dân thứ nhất, phải sống trong hai thế giới. Với một đầu óc ăm ắp tiếng Việt, tôi nói tiếng Anh như người ngọng, broken English, hay đúng hơn là Vietnaminglish; với một tâm hồn ngập tràn kỷ niệm Việt Nam của hai phần ba đời người và với một hoài vọng được trở về quê hương Việt Nam, tôi lại tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ và làm đêm làm ngày để nuôi sống mình và phục vụ nước Mỹ. Lắm khi quên bẵng cả chuyện về. Quả là nghịch lý. Trong nhà, từ bức tranh treo tường đến món ăn cất trong tủ; từ băng nhạc giải trí cho đến sách, báo, cái gì cũng Việt Nam, Việt Nam. Nhưng ra ngoài đường, bất cứ ở đâu, ngay cả ở nơi có vẻ Việt Nam nhất là Little Saigon, vẫn là một thế giới đầy Mỹ. Diễn hành Tết trên đường Bolsa chẳng hạn, trong cái không gian đầy cả Mỹ, vẫn đậm đà mùi vị Việt Nam và ngược lại, trong lúc cố sức bày tỏ truyền thống Việt Nam, diễn hành Tết vẫn hao hao không khí Hoa Kỳ. Chưa kể đến các tượng danh nhân Việt được dựng nhiều nơi trên đất Mỹ, lại để nhắc cho con cháu nhớ đến những anh hùng dân tộc… Việt Nam.

Cái song quan luận đó chi phối quan hệ cha mẹ-con cái trong gia đình. Tôi ca ngợi nước Mỹ, văn minh Mỹ, trường học Mỹ, thúc đẩy chúng trở thành những người Mỹ thực thụ trong dòng chính, nhưng đồng thời vẫn bó buộc chúng theo những phong tục Việt Nam, vẫn răn dạy chúng y như thể đang ở Việt Nam. Trường dạy cho con cái tôi những Washington, Columbus, Lincoln, Kennedy, nội chiến Nam Bắc,… tôi lại dạy cho chúng về Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Nguyễn Huệ. Một mặt, thích chúng thành tài trên đất Mỹ, nhưng mặt khác, vẫn muốn giữ truyền thống Việt Nam và không muốn chúng kết hôn với người Mỹ (trắng) hay với người của các sắc tộc khác. Từ chối sự hợp chủng lắm khi trở thành một nỗi sợ hãi: sợ con lấy Mỹ. Chẳng những thế, còn sợ con nhiễm nếp sống luông tuồng, tự do của văn hóa Mỹ, đâm ra lai căng, mất gốc (!). Đúng là tiến thối lưỡng nan!

Thực ra, chẳng trách gì và trách ai. Đó là nét rất chung của mọi di dân. Michael Walzer, trong bài viết có tựa đề “What does it mean to be an ‘American?’,” cho rằng, “người Mỹ” nói chung, không bao giờ nói về đất nước [Mỹ] của họ như là một tổ quốc. Những người di dân, dù biết ơn xứ sở Mỹ đến đâu đi nữa, cũng không bao giờ quên nơi chốn cũ… Con cái họ cũng thế, biết rằng gốc gác của chúng là ở một nơi khác. Bởi vậy, theo ông, “Không còn nghi ngờ gì nữa, con cái họ, tuy sinh trưởng ở đây, một số cảm giác ngượng nghịu với cái mới ở đây hoặc với cái cũ xa xôi, đã khiến họ cố cưỡng chống lại việc gọi đất nước này là quê hương.” (They, no doubt, are native grown, but some awkward sense of newness here, or of distant oldness, keeps the tongue from calling this land “home.”)

Nhận xét đó, theo tôi, khá chính xác. Với bản thân tôi, nỗ lực hội nhập lại kéo theo nỗ lực chống-hội-nhập. Sự mâu thuẫn nhau đó không chỉ diễn ra một lúc nào đó, ở một thời điểm nào đó, mà tràn đầy trong đời sống hàng ngày. Từ miếng ăn, cách mặc cho đến sự suy nghĩ. Vì thế, tuy đã ở khá lâu trên đất Mỹ, mà tôi vẫn sống trong cảm giác tạm dung, kể cả những lúc hãnh diện đặt tay lên ngực khi chào cờ Mỹ. Và được trở về Việt Nam vẫn là giấc mơ nóng bỏng trong tâm hồn.

Nhưng…

Về Việt Nam, những tưởng là nơi tôi có thể sống lại toàn diện căn tính Việt của mình. Hóa ra là không… Sau gần 20 năm chen chúc trong cái “nồi tan chảy,” khi về lại thăm quê, sau những xúc động ban đầu, tôi cảm thấy có cái gì dửng dưng nơi cỏ cây, thành quách, đường sá. Bầu trời, áng mây, chừng như cũng nhuốm vẻ thờ ơ. Mà dường như tôi cũng vậy.

trở về, tôi, chốn cũ
quê hương ơi quê hương
trăng bạc lòng không tỏ
tôi bạc lòng, nín thinh

Bà con, bạn bè, tôi thấy khác. Họ cũng nhìn tôi khác. Giữa lòng quê hương, tôi trở thành kẻ khác. Không những thế, thành người lạ. Chúng tôi đều lạ lẫn nhau! Trong xác thân một người Việt đã ghi lên dấu ấn của một phong cách sống khác Việt Nam;t ôi đã mang theo ít nhiều những nét… Mỹ. Hóa ra, vì đã được nấu – cách này hay cách khác – trong cái “The Melting Pot” mà tôi đã bị chuyển hóa, Việt mà vẫn không phải là Việt. Còn công an Cộng Sản thì có lẽ xem tôi là “người khác” đến hai lần: một, tôi là người của chế độ cũ và hai, tôi ở nước Mỹ về. Và cả hai loại người đều không phải là người Việt (theo cách hiểu của họ). Trong không khí và cảm thức đó, trở về quê cũ, mà lòng lại mang mang một cảm giác lạ lùng: quê người. Là chốn tạm dung.

Trời ơi, tôi có đến… hai chốn tạm dung!

Trong một bài đi trên đài VOA trước đây, tản mạn chuyện đi/về giữa Việt Nam và Mỹ, tôi có viết: Về [Việt Nam]. Rồi lại đi [Mỹ]. Sau hàng chục tiếng trên máy bay, khi đáp xuống phi trường Houston, tôi cảm thấy mình vừa VỀ NHÀ. Và yên tâm. Ô hay! Sao lại VỀ? Sao lại NHÀ? Tôi đã chẳng vừa VỀ thăm NHÀ ở Việt Nam sao! Đi, về, về, đi. Rốt cuộc, tôi treo tôi giữa hai sợi đi/về. Lơ lửng.

Đó là một thứ biện chứng: biện chứng đi/về. Mà cũng là biện chứng hội nhập/chống hội nhập. Hai mươi lăm năm sau ngày chân ướt chân ráo đến Hoa Kỳ, bây giờ tôi mang hai quê hương, tôi đứng dạng chân giữa hai nền văn hóa, tôi đi dây giữa hai truyền thống. Mới đây, tôi đọc một bài viết rất cảm động và rất sống thực của một đứa con lai trên tờ Người Việt. “Tôi lớn lên không giống những đứa trẻ chung quanh. Bởi tôi là một đứa con lai. Do má tôi chửa hoang [với một anh lính trẻ Mỹ] mà có.” (Minh Minh). Và cảm thấy, tôi cũng là một người…lai, lai văn hóa, hybrid culture. Thì lai nào cũng là lai. Tôi là một công dân lai.

Ngày rời đất nước ra đi, tôi có ghi lại cảm xúc của mình trong một ca khúc với đoạn cuối khá nỗi niềm:

Tôi đã đi nhưng vẫn mong
Mong một ngày đất nước tự do
Khắp phố phường anh em hội ngộ
Người gặp người ca khúc trùng tu.

Mong ước tôi vẫn còn như cũ. Nhưng nếu có ai đó hỏi tôi: Nếu chế độ Cộng Sản bỗng nhiên sụp đổ, và đất nước trở nên tự do, dân chủ, bạn có sẵn sàng trở về để làm một người Việt Nam như cũ hay không?

Tôi bùi ngùi, không biết trả lời làm sao.

Chao ôi, thưa bạn, phải chăng tôi đã là một… người khác mất rồi!

(11/2018)

(Nguồn: ‘BMH’ via Phụng Sự Xã Hội: [email protected])

[jwplayer PCAPbu9o]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT