Luật Sư tại California và Washington. Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708, điện thoại: (714) 531-7080, website: www.lylylaw.com.
Luật Sư LyLy Nguyễn
Ở xứ Mỹ khi bàn đến khía cạnh tài chánh trong hôn nhân, ngoài vấn đề tài sản sở hữu riêng hay chung còn có hai đề mục khác không kém phần quan trọng trong đời sống vợ chồng, đó là nợ nần và thuế má. Dĩ nhiên sau khi kết hôn vợ chồng có cuộc sống hòa nhập với nhau nhưng không có nghĩa là cùng phải gánh nợ hay đóng thuế. Tùy từng tình huống và hoàn cảnh, vợ chồng có thể liên đới hoặc không với cả nợ lẫn thuế.
Vợ chồng với nợ nần
Tùy theo bản chất của món nợ cũng như tùy tiểu bang cư ngụ, vợ chồng có thể phải chịu trách nhiệm chung về nợ nần do một trong hai người mắc phải. Nếu vợ chồng cùng ký vay thì đương nhiên cả hai đều phải trả – thí dụ như cùng ký đơn xin cấp thẻ tín dụng với hứa hẹn sẽ trả số tiền dùng thẻ trong tương lai cùng tiền lãi – mặc dù chỉ có một sử dụng mà người kia không biết hoặc không đồng ý về những chi tiêu bằng thẻ đó. Tương tự nếu cặp vợ chồng cùng ký tên vay tiền mua nhà thì cả hai đều mang nợ ngân hàng cho vay dù sau này một trong hai người không cư ngụ trong ngôi nhà đó nữa.
Tại các tiểu bang theo quy chế “tài sản cộng đồng” cả vợ lẫn chồng đều trách nhiệm liên đới về nợ dù rằng chỉ có một người đứng vay. Những món nợ dùng tiền vay để chi tiêu cho gia đình thì cả hai vợ chồng đều chịu chung trách nhiệm phải trả ngay cả trường hợp một người không ký. Điều này rõ rệt tại vài tiểu bang có “luật chi phí gia đình” (family expense statutes) theo đó hai vợ chồng đều phải chịu chung những nợ chi phí có lợi ích gia đình, cho dù một người không ký hoặc không chấp thuận trước nợ đó.
Ngoài ra còn những tiểu bang khác buộc vợ chồng bổn phận cùng gánh vác chung chi phí gia đình do “luật chung” (common law) – loại luật bất thành văn – mà không cần đến luật riêng về nghĩa vụ này. Lấy thí dụ bà vợ dùng thẻ tín dụng mua thực phẩm cho gia đình tại siêu thị địa phương hoặc đem con đi bác sĩ khám bệnh thì tự động ông chồng hoàn toàn chịu trách nhiệm nợ này vì đây là chi phí có lợi ích cho gia đình.
Ngược lại nếu bà vợ một mình vay tiền đi Việt Nam thăm bà con, hoặc ông chồng vay tiền chơi cổ phiếu; nói chung cả hai chẳng ai phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của người kia ngoại trừ trường hợp cả ông lẫn bà cùng ký phụ vay tiền cho nhau. Ngược lại tại các tiểu bang theo qui chế “tài sản cộng đồng” như nói ở trên cả hai vợ chồng đều có liên đới về nợ của nhau bất kể có ký phụ hay không.
Nợ của vợ hoặc chồng trước khi cưới
Phần đông vợ hay chồng không phải chịu trách nhiệm về những nợ nần của người kia nếu nợ đó xẩy ra trước khi cưới; những khoản nợ này hoàn toàn thuộc về cá nhân nào mắc trước đó. Tuy nhiên tại nhiều tiểu bang cho phép xiết tài sản “chung” của cuộc hôn nhân mới để thanh thỏa một số “nợ đặc biệt” do vợ hay chồng còn mắc trước khi cưới điển hình là tiền trợ cấp con thơ của hôn nhân cũ mà một người chưa trả. Lấy thí dụ một ông nọ còn thiếu $15,000 tiền cấp dưỡng cho con đời vợ trước, sau này ông ta có nhà hay trương mục ngân hàng đứng tên chung với bà vợ kế thì những tài sản chung này có thể bị tòa xử cho tịch biên để thanh toán số tiền $15,000 chưa trả cho đứa nhỏ hay người giám hộ.
Trường hợp này nếu bà vợ sau lo rằng vợ cũ hay chủ nợ trước của chồng kiện đòi xiết tài sản chung như nói trên thì bà ấy nên giữ mọi tài sản đứng tên một mình thì không ai động chạm được đến của cải riêng của bà ta trừ phi ông chồng có đứng tên chung.
Nợ kinh doanh thương mại của vợ hoặc chồng
Nếu vợ chồng có một người làm chủ cơ sở kinh doanh còn người kia thì không, người không làm chủ sẽ không bị liên đới vào các nợ nghiệp vụ trừ phi người này có ký phụ để bảo đảm cho người kia vay tiền làm ăn. Tuy nhiên cũng như nêu trên, nếu cặp vợ chồng cư ngụ tại các tiểu bang theo quy chế “tài sản cộng đồng” thì cả hai vợ chồng đều phải chịu liên đới về nợ doanh nghiệp cho dù chỉ có một người đứng làm chủ bất kể người kia có ký phụ hay không. Bởi lẽ đó giới tài trợ chuyên cho vay tiền làm ăn buôn bán thường muốn nắm càng nhiều bảo đảm càng tốt – chứ không chỉ dùng cơ sở nghiệp vụ đó làm thế chấp. Trường hợp lỡ người vay không trả nổi thì chủ nợ sẽ đem mọi thế chấp hoặc bảo đảm ra để thâu nợ cho bằng được.
Vì thế khi cho vay tiền giới tài trợ thường bắt chủ nhân doanh nghiệp dùng nhà ở để bảo đảm. Điều này có nghĩa là cả hai vợ chồng người vay phải ký tên chung cho phép dùng ngôi nhà làm thế chấp. Do đó nếu làm ăn lỡ thua lỗ không trả được nợ thì ngôi nhà cũng không cánh mà bay theo món nợ.
Tín dụng của vợ chồng
Theo luật định vợ chồng đều có quyền mở trương mục tín dụng trên căn bản cá nhân mà không lệ thuộc vào nhau. Giới tài trợ không có quyền đòi hỏi người hôn phối phải ký phụ ngoại trừ cặp vợ chồng đó cư ngụ tại các tiểu bang theo qui chế “tài sản cộng đồng”; cả hai vợ chồng có thể bị đòi hỏi cùng phải ký tên chung và có trách nhiệm liên đới với nhau về nợ nần.
Riêng California là tiểu bang theo quy chế “tài sản cộng đồng” theo đó cả hai vợ chồng hoàn toàn liên đới trách nhiệm nợ nần với nhau trên của cải chung. Vì vậy vợ chồng nào đang có nghiệp vụ kinh doanh nên chia nhau đứng tên riêng trên một số của cải quan trọng như một phương cách phân tán tài sản để bảo vệ khỏi trách nhiệm liên đới phòng hờ tình huống làm ăn không thuận lợi.
Vợ chồng với thuế má
Nếu trên tờ khai thuế liên bang và tiểu bang có tên và chữ ký của cả hai vợ chồng thì cả hai đều liên đới về thuế. Nói chung nếu vợ chồng cùng đứng tên khai thuế chung (married filing jointly), nếu có nợ thuế thì sở thuế vụ IRS sẽ nắm cả hai.
Đôi khi trong một vài tình huống đặc biệt. một trong hai người hôn phối có thể được miễn tố không phải chịu nợ thuế chung nếu người ấy chứng minh được rằng mình là người “hôn phối vô tội” (an innocent spouse). Vợ hay chồng có thể là “hôn phối vô tội” nếu người ấy thực sự không biết – hay không có lý do để biết – rằng tờ khai thuế của mình khai ít hơn số tiền thuế đúng ra phải trả vì tờ khai thuế do người kia soạn. Tương tự một bà vợ nhờ chồng hay chuyên gia kế toán giúp khai thuế sẽ được coi như vô can nếu có sai sót trong tờ khai thuế với những mục khai giảm không được IRS chấp thuận.
Nếu một người thành hôn muốn được bảo vệ trọn vẹn phòng trường hợp liên lụy về khai thuế không chính xác do người phối ngẫu đứng khai thì giải pháp tốt nhất là khai theo kiểu “vợ chồng khai thuế riêng rẽ” (married filing separate return). Tuy nhiên điều này thường đưa đến hậu quả tiền thuế sẽ cao hơn là thuế của vợ chồng đứng khai chung.
Luật thuế “phạt kết hôn” đối với vợ chồng khai thuế chung
Điều này tùy thuộc vào mức thuế (tax bracket) của mỗi người. Nếu vợ chồng có người lương cao và người lương thấp đứng khai thuế chung, thông thường họ sẽ trả thuế nhẹ hơn là vợ chồng đứng khai thuế riêng rẽ từng cá nhân hoặc khai thuế độc thân. Tùy theo mức lợi tức cao hay thấp của mỗi người, vợ chồng khai thuế riêng cũng có thể trả thuế cao hơn hoặc thấp hơn khai chung. Đối với vợ chồng cả hai cùng có lương cao khi khai thuế chung thì thuế cao hơn là khai riêng như độc thân. Sự kiện này được mệnh danh là “phạt kết hôn” (marriage penalty). Hiện nay quốc hội đang vận động cải tổ luật thuế đề nghị hủy bỏ “phạt kết hôn” ra khỏi luật thuế, tuy nhiên đề nghị này khởi xướng từ năm 2000 cho đến nay vẫn chưa thấy nhúc nhích.
Vợ chồng với thuế tặng phẩm
Vợ chồng có thể tặng cho nhau tiền bạc bất cứ bao nhiêu không phải trả thuế tặng phẩm liên bang (federal gift tax) với điều kiện cả hai phải là thường trú trên đất Mỹ. Tuy nhiên tặng phẩm đó phải cho một cách công khai hoặc xếp đặt dưới hình thức một tín mục (trust) đứng đắn. Phần đông tiểu bang – ngoại trừ một số ít – đều có luật miễn thuế tặng phẩm giữa vợ chồng cho nhau.
Luật miễn thuế tặng phẩm không áp dụng cho thân nhân khác trong gia đình như con cái, cha mẹ, anh em,… hoặc người ngoài gia đình, cũng như tín mục phải trả thuế nếu số tiền trao tặng vượt quá giới hạn miễn thuế. Theo quy chế thuế liên bang, một cá nhân có quyền cho người khác không phải là vợ hoặc chồng tổng số tiền tặng lên tới $15,000 mỗi năm được hoàn toàn miễn thuế. Một cặp vợ chồng có thể cho người khác $30,000 mỗi năm không phải trả thuế tặng phẩm.
Kỳ tới chúng tôi trình bày hôn nhân theo “luật chung” (common law) – loại luật bất thành văn – áp dụng tại một số tiểu bang. Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.





















































































