Vann Phan/Người Việt
SANTA ANA, California (NV) – Kể từ khi Cộng Sản Trung Hoa được kết nạp vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) hồi năm 2001, cộng đồng quốc tế cứ mải mê và tất bật lo chuyện buôn bán với nước Cộng Sản khổng lồ này để làm giàu.

Thế giới chỉ mới bắt đầu chú ý đến vấn đề tồn tại của chế độ Cộng Sản tại Hoa Lục cũng như tại các nước Á Châu khác từ Tháng Giêng năm nay, sau khi Cộng Sản Trung Hoa bị nhiều quốc gia, từ Hoa Kỳ cho tới Liên Âu và Úc, nghi là kẻ đã chủ tâm tung ra con virus Corona và gây nên đại dịch COVID-19 để làm tê liệt các quốc gia tự do, dân chủ, đứng đầu là Hoa Kỳ, nhằm tạo cơ hội cho Bắc Kinh trở thành bá chủ thế giới.
Nhưng Cộng Sản Trung Hoa (99 năm tuổi), và luôn cả nước Cộng Sản Việt Nam đàn em của họ (90 năm tuổi), cùng với Cộng Sản Bắc Hàn (74 năm tuổi), sẽ không dễ gì mà sụp đổ, ít ra cũng là trong tương lai gần.
Các lý do sau đây có thể giải thích vì sao Cộng Sản Trung Hoa, Cộng Sản Việt Nam, và Cộng Sản Bắc Hàn chẳng những đã không sụp đổ như nhiều người mong đợi mà còn hùng mạnh hơn, bám vững hơn, dù đã 29 năm trôi qua kể từ khi các chế độ Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu cáo chung bên trời Âu.
Ba lý do chính
Thứ nhất, không cần phải kể đến trường hợp của chế độ Cộng Sản Bắc Hàn vốn nổi tiếng hà khắc và tàn bạo nhất thế giới, cả Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam đều sử dụng bạo lực tối đa để trấn áp các mầm mống chống đối chế độ ngay từ buổi ban đầu.
Mặc dù thông tin về những vụ đàn áp như thế đã bị triệt để bưng bít, thế giới cũng biết được một số vụ đàn áp các thành phần “phản động” qua cuộc Cách Mạng Văn Hóa (tức là cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa Giai Cấp Vô Sản) tại Hoa Lục, mà lịch sử gọi là “10 năm thảm họa.” Cuộc cách mạng này do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và lực lượng Vệ Binh Đỏ thực hiện từ 1966 tới 1976, với hậu quả là Tướng Lâm Bưu bị chết một cách bí mật vì ra mặt chống đối họ Mao, trong khi có khoảng 1.8 triệu người dân bị giết hay tự sát, và 20 triệu người khác bị tù đày.
Đến năm 1989, cuộc đàn áp sinh viên và các thành phần đòi tự do, dân chủ tại Quảng Trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh đã làm cho hàng ngàn người biểu tình bị bắn hoặc bị xe tăng cán chết cùng hàng ngàn người khác bị thương, với những vết máu loang lổ và xương, thịt còn để lại trên quảng trường sau cuộc thảm sát.
Tại Cộng Sản Bắc Việt, cuộc nổi dậy hồi năm 1956 ở Quỳnh Lưu chống kế hoạch cải cách ruộng đất do Chủ Tịch Hồ Chí Minh phát động đã bị đàn áp tàn bạo, khiến hàng trăm người biểu tình bị giết chết và bị thương. Tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, từ năm 2014 tới 2017, các cuộc biểu tình khiếu kiện đất đai, chống Cộng Sản Trung Hoa xâm lấn biển đảo của Việt Nam và chống công ty Fornosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung Việt Nam đều bị thẳng tay đàn áp trong khi những phần tử bị cho là xúi giục dân chúng làm loạn đều bị bắt giam.
Kinh nghiệm về sự sụp đổ “đáng tiếc” của các đảng Cộng Sản Liên Xô và Đông Âu hồi năm 1991 bên trời Âu (chỉ vì quân đội và công an Liên Xô đã không thẳng tay tiêu diệt lãnh tụ phe “phản loạn” Boris Yeltsin tại một cuộc tập họp ở Moscow trong khi đảng Cộng Sản Liên Xô đã lơ là để cho chính sách Perestroika [Công Khai] và Glasnost [Cải Cách] của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev phát triển làm ung thối chế độ) đã khiến cho hai đảng Cộng Sản Á Châu này càng cương quyết hơn trong sách lược dùng tối đa bạo lực để trấn áp mọi cuộc đối kháng từ trong trứng nước của dân chúng hoặc của chính các đảng viên Cộng Sản có khuynh hướng “xét lại” hoặc “cải cách.” Ngay tại Cộng Sản Việt Nam, như thế giới bên ngoài đã rõ, các cuộc biểu tình chống chế độ chưa kịp bùng lên thì những thành phần bị tìn nghi là nhà tổ chức đã bị bắt giữ hoặc bị cô lập rồi, và con số những nhà bất đồng chính kiến hoặc thành phần chống đối chế độ bị Cộng Sản Việt Nam bắt giam ngay trước giờ hành động ngày một gia tăng.
Thứ nhì, sách lược làm giàu cho các chế độ Cộng Sản Á Châu để họ được “nếm mùi tư bản phồn thịnh” rồi họ sẽ tự động chuyển mình thành các quốc gia tự do, dân chủ chẳng những đã thất bại ê chề mà còn làm gia tăng thêm sức mạnh để các lãnh tụ Cộng Sản củng cố cho vững vàng hơn chế độ độc tài, đảng trị, như trường hợp của Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam cho thấy. Rõ ràng là các đảng Cộng Sản Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ một phần cũng vì nền kinh tế yếu kém của họ mà họ lại không được Hoa Kỳ và Tây phương “hà hơi, tiếp sức” bằng chủ nghĩa tư bản “phồn vinh,” trong khi cả Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam đều được giới tư bản Tây phương ve vãn để mong xâm nhập vào thị trường béo bở của họ, kể cả công kênh họ vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) với nhiều biệt lệ và đặc quyền để họ yên tâm làm giàu thì giới tư bản Mỹ và Tây phương mới có thể nhờ đó mà giàu có thêm.
Thứ ba, chủ nghĩa vật chất (materialism), cùng đích của hai chủ nghĩa cộng sản (communism) và tư bản (capitalism), ngày càng chế ngự nền văn minh thế giới và đang trở thành chủ nhân ông điều khiển mọi sinh hoạt của nhân loại từ Đông sang Tây. Có điều, chủ nghĩa vật chất dường như chỉ làm lợi cho những quốc gia theo chế độ Cộng Sản hoặc độc tài, đảng trị như Cộng Sản Việt Nam, và đặc biệt là Cộng Sản Trung Hoa, mà lại gây hại cho các nền tự do, dân chủ trên thế giới chỉ vì lòng tham lam quá độ của các nhà tư bản. Trong khi chủ nghĩa vật chất đang tạo bất an xã hội tại các nước Tây phương, từ Hoa Kỳ cho tới Âu Châu, vì chỉ làm lợi cho giới tư bản giàu có và đào sâu và làm rộng thêm cái hố cách biệt từng tồn tại bấy lâu giữa người giàu và kẻ nghèo, chủ nghĩa vật chất đang là công cụ đắc lực có khả năng bình định xã hội và ru ngủ được đám dân chúng, trước đây nghèo khó vì chủ nghĩa xã hội, nay bỗng có chút của ăn, của để, từ đó làm nhụt đi ý chí đối kháng chống đường lối cai trị tàn bạo của chính quyền Cộng Sản, và với thời gian thì quyết tâm dùng bạo lực để lật đổ chế độ độc tài, đảng trị trong nước cũng mai một theo.
Giới Việt kiều chuyên làm ăn với Cộng Sản Việt Nam vẫn đưa ra nhận xét rằng, trong chín, mười năm trở lại đây, một số người dân trong nước xem ra còn giàu có hơn nhiều người Việt hải ngoại nữa, nhất là giới kinh doanh và những kẻ hoạt động trong kỹ nghệ du lịch và giải trí, ai cũng có gia tài bạc triệu (đô la) và có tài sản mua sẵn tại Mỹ cũng như tại các nước Tây phương khác, tức là họ còn giàu có hơn nhiều người trong giới công nhân tại Hoa Kỳ và Âu Châu nữa.

Nhưng càng có tiền, có của, dân chúng tại các quốc gia Cộng Sản, như Trung Hoa và Việt Nam, càng trở nên cầu an và không muốn mạo hiểm làm điều gì để bị chính quyền gây khó dễ, chưa nói tới chuyện họ sẽ bị bắt bớ, giam cầm, với những bản án nặng nề hàng chục năm trở lên mà không biết kêu ca vào đâu. Đường lối chung của những con người đang ăn nên, làm ra tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay là “nếu mình không phản đối chính quyền điều gì thì họ cũng chẳng làm khó, làm dễ gì mình cả,” có nghĩa là người dân cứ việc làm ăn bằng cách riêng của họ theo những gì mà nhà nước cho phép, nhưng tuyệt đối không được kêu ca, phản đối hoặc chống lại chính quyền Cộng Sản thì mới mong được họ để yên cho.
Tấm gương của hàng trăm nhà bất đồng chính kiến bị nhà cầm quyền Cộng Sản tù đày và hành hạ tại Cộng Sản Trung Hoa, như Lưu Hiểu Ba, Ngải Vị Vị, Ngụy Kinh Sinh… và tại Cộng Sản Việt Nam như Trần Anh Kim, Lê Thị Công Nhân, Trần Huỳnh Duy Thức… cho thấy ngày nay dân chúng tại hai quốc gia Cộng Sản thầy trò nói trên có rất ít cơ hội để nổi lên chống đối nhằm lật đổ guồng máy cai trị của chính quyền trong nước. Nếu Hoa Kỳ và các nước Tây phương không ra sức dụ dỗ Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam mở cửa buôn bán với họ để có được mức độ phồn thịnh như ngày nay thì đám dân chúng, bị nghèo đói vì chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa không tưởng, có thể đã bị dồn vào bước đường cùng để rồi nổi lên chống đối và lật đổ chế độ Cộng Sản đang cai trị họ, vì họ chẳng có gì để mất cả.
Các lý do phụ
Ngoài các lý do chính yếu nêu trên, cón có các lý do phụ thuộc giúp các chế dộ Cộng Sản tại Trung Hoa và Việt Nam tồn tại lâu hơn:
-Cuộc Chiến Tranh Lạnh chấm dứt sau hơn bốn thập niên tồn tại khi Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu sụp đổ (1991) cùng với nguyên tắc không can thiệp vào nội tình của nhau giữa các nước thành viên tổ chức Liên Hiệp Quốc tạo cơ hội cho các nước Cộng Sản còn lại của thế giới, như Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn, và Cuba, có thể yên tâm phát triển đất nước của họ mà không còn lo sợ bị các nước tự do, dân chủ trên thế giới tấn công, và đồng thời cũng giúp cho chính quyền tại các nước đó dồn mọi nỗ lực vào việc củng cố quyền hành và tăng cường bộ máy kiểm soát dân chúng để không cho họ nổi loạn, dù họ là dân chúng ở Tây Tạng, Tân Cương, và Bắc Hàn, hay Hà Tĩnh, Nghệ An, và La Havana.
-Việc toàn cầu hóa nền kinh tế vừa giúp ích cho các quốc gia Cộng Sản biết lợi dụng thời cơ mà làm ăn và tích lũy của cải mà cũng còn giúp giải tỏa tâm lý bị dồn nén của dân chúng sống dưới các chế độ độc tài, đảng trị nhờ vào việc giao thương và phong trào du lịch quốc tế đang phát triển khắp nơi. Những yêu tố này càng làm cho người dân sống dưới sự cai trị của Cộng Sản gia tăng nhiều hơn việc thụ hưởng khoái lạc vật chất, để rồi từ đó trở nên dửng dưng hơn trước những bất công xã hội do chế độ gây ra, miễn là bản thân mình được sung sướng thì thôi.
-Kỹ thuật kiểm soát và kềm kẹp người dân dưới các chế độ Cộng Sản ngày càng tinh vi hơn, kể cả việc quấy nhiễu và khủng bố thân nhân của những kẻ bị bắt giam về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (theo Điều 79 Bộ Luật Hình Sự). Bên cạnh đó, những tiến bộ vượt bực của khoa học trong thế kỷ này so với thế kỷ trước (do các nước Tây phương sáng chế và được các quốc gia Cộng Sản triệt để áp dụng), trong đó có kỹ thuật nhận dạng và theo dõi con người, càng giúp ích cho các chế độ bạo tàn có thên phương tiện khống chế dân chúng và bóp nghẹt các phong trào chống đối hoặc bạo động chống chính quyền ngay từ trong trứng nước nữa.
-Cũng giống như các chế độ Cộng Sản tại Liên Xô và Đông Âu hồi cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, các chế độ Cộng Sản tại Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn, và Cuba ngày nay chỉ có thể sụp đổ vì các cuộc nổi dậy từ bên trong đất nước của họ mà thôi, chứ không thể nhờ vào sự can thiệp từ các quốc gia bên ngoài. Nhưng, như đã trình bày ở trên, các cuộc nổi dậy của dân chúng chống các chế độ Cộng Sản là điều khó có thể thực hiện được trong hoàn cảnh thế giới hiện nay. (Vann Phan) [qd]



























































































