Manila và Hà Nội đối phó với Bắc Kinh ra sao trên Biển Đông?

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Cuộc tranh chấp biển đảo tại đá Ba Đầu (Whitsun Reef) giữa Philippines và Trung Quốc từ Tháng Ba tới nay vẫn chưa kết thúc khi hàng trăm tàu bè của Trung Quốc vẫn chưa chịu rời khỏi khu vực đá Ba Đầu mà Philippines từ lâu vẫn cho rằng thuộc chủ quyền của họ, mặc dù chinh quyền Manila đã nhiều lầu yêu cầu Bắc Kinh rút hết tàu đi.

Hình chụp từ vệ tinh hôm Thứ Ba, 23 Tháng Ba, 2021, cho thấy tàu Trung Quốc đậu đầy ở khu vực bãi đá Ba Đầu. (Hình: ©2021 Maxar Technologies via AP)

Các nước như Cộng Sản Việt Nam và Đài Loan, nhân vụ này, đã cùng nhau lên tiếng xác nhận chủ quyền của họ trên vùng bãi đá này, cho dù đó chỉ là những lời tuyên bố suôn không có bằng cớ lịch sử cụ thể để chứng minh, và cũng không hề được quốc tế công nhận. Vì đá Ba Đầu – cũng như bãi cạn Scarborough từng bị Trung Quốc lấn chiếm cách nay gần một thập niên – nằm bên trong quần đảo Trường Sa (Spratley Islands) tại Biển Đông trên con đường hàng hải đi từ Tây Thái Bình Dương sang Đông Ấn Độ Dương cho nên bất cứ cuộc khủng hoảng nào lên quan tới bãi đá này cũng thu hút sự chú ý của dư luận thế giới.

Cuộc tranh chấp biển đảo mới nhất này giữa các quốc gia liên hệ trong khu vực cũng còn khiến cho nhiều người quan tâm muốn biết sách lược của các bên đối đầu nhau ra sao, hoặc nói cho cụ thể hơn, tức là Manila và Hà Nội đối phó với Bắc Kinh như thế nào trong các cuộc tranh chấp biển đảo với Trung Quốc tại Biển Đông.

Manila chọn giải pháp khi nhu, khi cương

Nhìn chung, sách lược của Manila nhằm đối phó với các cuộc lấn chiếm biển đảo tại Biển Tây của Philippines, tức Biển Đông hay South China Sea, dưới thời Tổng Thống Rodrigo Duterte là “khi nhu, khi cương.”

Rút kinh nghiệm vụ Trung Quốc lấn chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines hồi năm 2012 dưới thời Tổng Thống Benigno Aquino III mà Tổng Thống Mỹ Barak Obama, vì tôn trọng luật lệ quốc tế về chủ quyền các đảo hoang và bãi cạn tại Biển Đông, đã không có phản ứng gì, Tổng Thống Duterte chủ trương dịu giọng, và đôi khi còn quỵ lụy nữa – trước người bạn láng giềng hùng mạnh phương Bắc. Ông Duterte giả vờ như không có chiến thắng năm 2016 của Philippines tại Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) ở The Hague (Hòa Lan), với phán quyết bác bỏ yêu sách phi lý của Trung Quốc đòi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông.

Nhà lãnh đạo Philippines từng nói: “Điều tôi cần từ Trung Quốc là giúp Philippines phát triển.” Sau khi trở thành tổng thống Philippines, ông Duterte đã chọn Trung Quốc, thay vì Mỹ hoặc Nhật, làm điểm đến đầu tiên cho chuyến công du hải ngoại của mình. Ông cũng là tổng thống Philippines đầu tiên từ chối đến thăm một thủ đô của Tây phương, kể cả Washington, trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình. Ông Duterte lại còn tìm cách làm suy yếu mối quan hệ đồng minh gắn bó hàng thế kỷ giữa Philippines và Mỹ như một phần trong chiến lược “xoay trục” sang Trung Quốc. Có lần, ông Duterte còn dọa sẽ xé bỏ luôn cả hiệp ước an ninh Mỹ-Philippines nữa, chỉ vì Hoa Kỳ từ chối việc dùng quân đội giúp nước ông chống lại Trung Quốc để bảo vệ các đảo và bãi đá của mình trên Biển Đông.

Tuy nhiên, khi cần, chính quyền của Tổng Thống Duterte cũng biết tỏ ra cứng rắn với Trung Quốc, nhất là trong cuộc tranh chấp hiện nay với Bắc Kinh tại đá Ba Đầu.

Hôm 4 Tháng Tư, 2021, Bộ Trưởng Quốc Phòng Delfin Lorenzana của Philippines đưa ra tuyên bố: “Việc Tòa Đại Sứ Trung Quốc tại Manila hoàn toàn coi thường luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) mà Trung Quốc có tham gia thì thật là kinh khủng. Tuyên bố về ‘Đường Chín Đoạn’ của họ không có bất kỳ cơ sở thực tế hoặc pháp lý nào. Điều này, cùng với cái gọi là yêu sách lịch sử của họ, đã bị Tòa Trọng Tài từ chối và bác bỏ thẳng thừng… Sự hiện diện liên tục của các lực lượng dân quân biển Trung Quốc trong khu vực cho thấy ý định của họ nhằm chiếm thêm các địa điểm ở Biển Tây Philippines. Họ đã làm điều này trước đây tại bãi cạn Panatag, còn gọi là Bajo de Masinloc, và tại bãi Panganiban (Vành Khăn), vi phạm trắng trợn chủ quyền của Philippines theo luật pháp quốc tế.”

Tổng Thống Philippine Rodrigo Duterte (trái) và Bộ Trưởng Quốc Phòng Philippines Delfin Lorenzana tỏ ra cứng rắn với Bắc Kinh về vụ đá Ba Đầu. (Hình: AFP via Getty Images)

Việt Nam chọn giải pháp ngoài cương, trong nhu

Bên kia Vịnh Manila, Hà Nội chọn giải pháp “ngoài cương, trong nhu” để đối phó với hành vi xâm lấn biển đảo của Trung Quốc tại Biển Đông.

Ngoài cương có nghĩa là, nhìn bề ngoài, Cộng Sản Việt Nam vẫn được quốc tế, nhất là Mỹ, cho rằng họ rất cương quyết chống lại những cuộc phiêu lưu mạo hiểm của Trung Quốc để chiếm đoạt hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Kể từ sau vụ Hải Quân Trung Quốc tấn công và chiếm đoạt luôn nhóm đảo Gạc Ma của Việt Nam tại Trường Sa hồi năm 1988, Hà Nội vẫn lên tiếng phản đối những hành động xâm phạm lãnh hải hoặc khiêu khích của dân quân và tàu Hải Giám Trung Quốc tại các hòn đảo và bãi đá hiện do Việt Nam chiếm đóng. Kể cả những lần các tàu khảo sát dầu khí của Trung Quốc tiến vào thềm lục địa Việt Nam, như vụ giàn khoan Hải Dương 981 hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa hồi năm 2014, từng tạo nên một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa hai nước Cộng Sản thầy trò này. Nay nhân vụ đá Ba Đầu, Hà Nội cũng lên tiếng chỉ trích hành động của phía Trung Quốc, gián tiếp bênh vực cho Manila, mặc dù Việt Nam nại cớ họ cũng là kẻ có chủ quyền trên vùng bãi đá đó.

Trong nhu có nghĩa là bên trong nội bộ hai nước Cộng Sản thầy trò này, Việt Nam luôn luôn nhường bước trước Trung Quốc. Phải biết rằng hồi năm 1974, khi Hải Quân Trung Quốc đánh chiếm đảo Hoàng Sa trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Thủ Tướng Cộng Sản Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã gởi công hàm xác nhận Trung Quốc có chủ quyền trên quần đảo này, và vì thế họ đã hành động đúng. Hồi năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm nhóm đảo Gạc Ma tại Trường Sa, 64 chiến sĩ Hải Quân Quân Đội Việt Nam đã tuân lệnh thượng cấp mà không nổ súng chống trả, để rồi tất cả đều bị Hải Quân Trung Quốc bắn chết.

Trên lãnh vực khai thác dầu khí tại Biển Đông, hồi Tháng Bảy, 2017, Việt Nam đã phải hủy bỏ một hợp đồng thăm dò dầu khí tại bãi Tư Chính trên Biển Đông với công ty khoan dầu Repsol của Tây Ban Nha sau khi Trung Quốc đe dọa sẽ tấn công các căn cứ của nước này tại quần đảo Trường Sa nếu Việt Nam không cho ngưng dự án của hãng Repsol.

Đền Tháng Ba, 2018, cũng do áp lực của Trung Quốc, tập đoàn Dầu Khí Việt Nam (PetroVietnam) lại yêu cầu hãng Repsol ngưng thêm một dự án khoan dầu tại một lô dầu khí khác mà theo ước tính là có trữ lượng 45 triệu thùng dầu và 172 tỷ foot khối hơi đốt. Chưa hết, hồi Tháng Bảy, 2020, công ty Noble Corporation (của Nga và Ấn Độ) và công ty dầu khí Rosneft Việt Nam cũng đã phải hủy hợp đồng thăm dò dầu khí “liên doanh” trên Biển Đông, do áp lực từ phía Trung Quốc.

Những nhường nhịn của Việt Nam đối với hành vi xâm lấn lãnh thổ của Trung Quốc phải nói là đã có từ sau thời “kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,” khi hai thầy trò này bắt đầu phân định biên giới, với việc Trung Quốc luôn nới rộng lãnh thổ về phía Việt Nam có khi cả trăm cây số, khiến ải Nam Quan và thác Bản Giốc của Việt Nam nay đương nhiên thuộc chủ quyền của Trung Hoa.

Tàu dân quân Trung Quốc chiếm đóng khu vực đá Ba Đầu hôm 7 Tháng Ba, 2021. (Hình: Philippine Coast Guard/National Task Force-West Philippine Sea via AP)

Tại sao Philippines và Việt Nam đối phó khác nhau trên Biển Đông?

Philippines có thể khi cứng, khi mềm với Trung Quốc được là nhờ họ đang là đồng minh của Hoa Kỳ. Tổng Thống Duterte thừa biết rằng, vì lỡ đánh mất miền Nam Việt Nam, nay Mỹ chỉ còn có Philippines là bầu bạn tại Biển Đông.

Nhà lãnh đạo Philippines cũng biết rằng cho dù ông có đối xử như thế nào đi nữa thì Mỹ cũng phải chiều lòng ông mà thôi. Ngay cả Việt Nam là kẻ thù cay đắng cũ mà Hoa Kỳ vẫn còn phải chìu chuộng nữa, huống hồ người bạn đồng minh bên kia Vịnh Cam Ranh của Mỹ lâu lâu lại dở chứng một chút? Qua sông thì phải lụy đò, người Mỹ nay đang ở trong vị thế không thể nào làm khác được.

Về phần Việt Nam, qua cuộc Chiến Tranh Việt Nam, phải thấy rằng cả Miền Nam Tự Do lẫn Miền Bắc Cộng Sản đều mắc nợ các đồng minh và đồng chí của mình. Trong khi Hoa Kỳ không hề đòi lại những viện trợ mà họ đã cung cấp cho Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh vì dẫu sao thì nước này cũng đã bị xóa sổ rồi, Trung Quốc không hề có ý định xóa nợ cho Việt Nam trong các khoản tiền bạc, quân trang, quân dụng, vũ khí, đạn dược, và lương thực mà họ đã cung cấp cho Việt Nam từ 1946 đến 1975 qua hai cuộc Chiến Tranh Việt Pháp (1946-1954) và Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975).

Vì Việt Nam chỉ có thể khất nợ chứ không thể không trả nợ cho Trung Quốc được cho nên thật chẳng có gì là lạ khi Hà Nội phải chiều ý Bắc Kinh trên mọi phương diện, nếu không thì sẽ bị Trung Quốc đem quân sang đánh như ngày xưa, mà những sự kiện như Mật Ước Thành Đô (1990), khai thác Bô Xít Tây Nguyên (2007) và vụ Luật Đặc Khu Hành Chính Kinh Tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc (2018) chỉ là mặt nổi của tảng băng chìm.

Cho đến bây giờ, hầu như các nguồn tài nguyên trên đất liền và biển cả của Việt Nam đã cạn kiệt sau gần nửa thế kỷ cực lực khai thác, vừa để đổi mới đất nước sao cho khác biệt hẳn với thời kỳ chiến tranh đang hoành hành tại Việt Nam, vừa để trả các món nợ khổng lồ cho các đồng chí Trung Quốc. Có lẽ sẽ phải chờ đến các thế hệ mai sau người ta mới biết chính xác khi nào thì Việt Nam trả dứt được các món nợ truyền kiếp đó cho Trung Quốc, bởi vì đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống tạo vinh quang tối đa cho thế hệ của họ và bỏ mặc cho các thế hệ mai sau phải trả những nợ nần đã vay mượn để đưa họ lên đài chiến thắng vinh quang. (Vann Phan) [qd]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT