Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – Lại Hè! Lại nắng! Và lại ve! Năm nay, 2021, con ve xuất hiện dài dài trên báo chí Hoa Kỳ, báo động một mùa ve rộn ràng, ầm ĩ vì sự xuất hiện của “Brood X” (Lứa Ve 10) – tên riêng do các nhà sinh vật học đặt cho loại ve năm 2021 này – trải dài qua 14, 15 tiểu bang, từ North Carolina, Georgia, Tennessee đến Indiana, Michigan, Pennsylvania, New York, New Jersey…

Ve hiện diện trên khắp thế giới với 3,390 loại, có loại thường niên (annual cicadas), có loại chu kỳ (periodical cicadas). Riêng Hoa Kỳ, 190 loại, trong đó 15 loại là chu kỳ, hoặc 13 năm hoặc 17 năm.
Brood X, lớn nhất trong các loại ve chu kỳ, tái xuất giang hồ sau 17 năm nằm im tu luyện trong lòng đất. Mô tả bằng những nhóm từ nghe rất “kêu” như “a big tsunami is coming” (cơn sóng thần lớn sẽ ập đến), “the big cicada invasion of 2021” (cuộc đại xâm lăng ve năm 2021).
Các nhà chuyên môn ước đoán phải có đến hàng tỷ (billions), thậm chí hàng ngàn tỷ (trillions) con Brood X sẽ tràn ngập các tiểu bang nói trên, từ rừng sâu cho đến công viên, từ đường phố cho đến các khu vườn nhà, bắt đầu từ giữa Tháng Năm và đạt đến đỉnh điểm vào giữa Tháng Sáu.
Ngoài tiếng ồn, một số tai nạn ve đã được ghi nhận trên báo chí: ve đâm vào mắt một người đang lái xe khiến xe lạc tay lái, đâm vào cột điện ở Cincinnati, Ohio, hôm 7 Tháng Sáu; chuyến bay chở thông tín viên báo chí đi Âu Châu tháp tùng chuyến Âu du của Tổng Thống Joe Biden bị chậm 7 tiếng đồng hồ vì bị ve bám vào máy, không khởi động được, hôm 9 Tháng Sáu…
Vùng tôi ở, Dallas, Texas, không có Brood X, chỉ có loại ve thường niên “Dog-Day cicada” (1), trông chẳng khác mấy với ve Huế. Đối với chú bé sống ở khu nhà vườn, ve là con vật bé nhỏ đáng yêu và thân quen nhất trong rất nhiều thứ côn trùng đầy dẫy chung quanh, mà tiếng kêu rộn ràng sảng khoái của chúng vào mỗi buổi trưa Hè và những trận mưa ve (ve đái) mát mẻ trong những ngày nóng bức nằm ngủ võng dưới vòm cây, tràn trề ký ức tuổi thơ tôi, kéo mãi đến tận bây giờ.
Nhưng có điều lấn cấn: nói đến ve, lập tức tôi nghĩ đến hình ảnh con ve trong bài ngụ ngôn “Ve và Kiến” do học giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ “La cigale et la fourmi” của La Fontaine: “Ve sầu kêu ve ve/ Suốt mùa Hè/ Đến kỳ gió bấc thổi/ Nguồn cơn thật bối rối…”
Hồi nhỏ, khi học bài thơ này, tôi hết sức bực mình với cách diễn tả “tính tình” con ve đầy những nét tiêu cực: lười, chỉ biết ca hát, không chịu làm việc, lại còn “sầu” nữa. Ve không lười, chẳng ham chơi và cũng không hề sống tới mùa Đông để than thở và xin xỏ thức ăn. Ve sạch sẽ, cao sang, không ô nhiễm môi trường, chẳng ăn sống nuốt tươi con vật nào; không những thế, hòa cùng với nắng và cây và lá, tạo nên sức sống miên man của những ngày Hè tươi vui, náo nhiệt.
Tôi chẳng rõ mỗi con thọ được bao lâu. Chỉ biết rằng khoảng chừng sau năm bảy tuần lễ rộn ràng là chúng dần dà biến đi đâu mất, gần như chẳng để lại dấu vết gì ngoài những chiếc vỏ khô chết hờ hững bám trên những cành cây buồn hiu, để lại một nỗi tiếc nuối vô bờ trong lòng đứa bé.
Ừ, đồng ý là “người buồn” thì “ve có vui đâu bao giờ,” chả thế mà “Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng” (nhạc Thanh Sơn) hay “Cung đàn nào thương bằng tiếng ve sầu” (nhạc Lê Dinh-Minh Kỳ), nhưng gọi con ve là “ve sầu” như một cái tên chính thức để chỉ loài ve thì thật là không chấp nhận được. Nhất là khi các nhà biên soạn tự điển biến hai chữ “ve sầu” thành từ vựng: hầu hết các tự điển đều dịch “cicada,” “la cigale” hay “thiền” là “ve sầu” thay vì chỉ là “con ve” hay “ve.” Có lẽ không có từ vựng nào chỉ một sinh vật lại kèm thêm một tính từ tiêu cực như con ve. Nổi tiếng bi thảm như “con dế buồn tự tử giữa đêm sương” (Du Tử Lê) mà tự điển chỉ ghi “cricket” là “con dế”, chứ chẳng phải “dế buồn!”
Tiếng ve là tiếng của một dàn đại hợp xướng, lúc nào cũng rộn ràng, hào hứng, vui tươi. Ngoài mục đích dọa nạt hay làm nhụt chí những con vật mê thịt ve, thì tiếng ve cũng là tiếng gọi tình (courting/mating call). Sao chẳng ai gọi là “ve tình” nhỉ!
Chú bé ngày xưa đã chứng kiến (và chờ đợi) biết bao lần, khi hàng ngàn chàng ve đang say sưa hợp xướng là lúc những nàng ve cái (vốn nhỏ con hơn và không hề biết kêu) đậu ở đâu đó lắng nghe, rồi thấm tình thấm ý, vỗ cánh nhẹ bay đến bên cạnh bạn tình, yên lặng chờ chàng trổ tài yêu đương. Nàng đến, chàng vẫn tiếp tục kêu, có điều, tiếng kêu đột nhiên dịu hẳn xuống, cách quãng, chậm rãi hơn và du dương hơn rồi từ từ… im bặt: cả hai quấn lấy nhau, quên trời quên đất. Chỉ đợi có thế, chú bé cầm cây cần dài, đẩy nhẹ một cái là cả chàng và nàng (đang dính vào nhau trong say đắm cuộc tình) từ từ rơi xuống đất để chú lấy cả cặp bỏ vào trong giỏ. Chao ơi, chú đã làm “tàn một cuộc tình” để thỏa mãn niềm vui tuổi nhỏ!
Khác với hình ảnh tiêu cực trong bài thơ ngụ ngôn La Fontaine, tiếng ve kêu đã đi vào thơ bằng những lời ca ngợi kể từ thời Hy Lạp cổ. Dù được gọi là thứ côn trùng kêu đinh tai nhức óc (shrill-voiced insect), nhiều nhà thơ Hy Lạp đã làm những bài “tụng ca ve” (cicada ode) tới nơi tới chốn. Chẳng hạn nhà thơ Meleager of Gadara (2): “O, shrill-voiced insect; that with dewdrops sweet/ Inebriate, dost in the desert woodlands sing” (tạm dịch: Ôi, tiếng hát con ve the thé đinh tai; cùng với những giọt sương ngọt ngào/ Vang lên trong những khu rừng vắng làm mê mẩn tâm can).

Thơ cổ Trung Hoa không thiếu tiếng ve (3). Có thể kể: “Tại Ngục Vịnh Thiền” (Vịnh con ve từ chốn lao tù), của Lạc Tân Vương (640-684), “Văn Thiền” (Nghe tiếng ve kêu), của Đỗ Mục (803-853), “Hàm Phong Thiền” (Con ve chịu gió), của Lư Chiếu Lân (663-689), “Văn Tảo Thiền” (Nghe tiếng ve sớm), của Lục Sướng (thế kỷ thứ 9), “Vũ Lâm Linh” (4) của Liễu Vĩnh (1004-1054)… Mời đọc một bài tiêu biểu, “Văn Thiền” (Nghe tiếng ve kêu), của Lai Hộc (?-883) (5):
“Lục hòe âm lý nhất thanh tân,
Vụ bạc phong khinh lực vị quân.
Mạc đạo văn thì tổng trù trướng,
Hữu sầu nhân hữu bất sầu nhân.”
Tạm dịch:
“Trong bóng mát của cây hòe một tiếng mới phát ra,
Sức truyền trong sương mù loãng và gió nhẹ chưa đồng đều.
Đừng có bảo lúc nghe ai cũng buồn,
Có người buồn, cũng có người không buồn.”
Thơ cổ Việt Nam về ve có “Sơ Thu Cảm Hứng” (Cảm hứng đầu thu), của Nguyễn Du và “Văn Thiền” (Nghe tiếng ve kêu), của Tùng Thiện Vương. Mời đọc “Sơ Thu Cảm Hứng:”
“Giang thượng tây phong mộc diệp hy,
Hàn thiền chung nhật táo cao chi.
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu,
Bất thị sầu nhân bất hứa tri.”
Tạm dịch:
“Gió tây thổi trên sông lá cây thưa thớt
Ve lạnh suốt ngày kêu trên cành cao
Trong tiếng kêu có điệu thanh thương
Không phải người buồn thì không biết được.”
Nhà thơ đã nhập tiếng lòng vào tiếng ve, lại là con ve cuối mùa Hè lạc lõng, hèn gì mà chẳng là “hàn thiền,” ve lạnh!
Nhà thơ Nhật Matsuo Basho (1644–1694), trong một bài hài cú về ve, đưa “Tiếng Ve” (Cicada Voice) vào một khung cảnh khác hẳn: thiền (6).
Mấy câu thơ ngắn ngủi được rất nhiều người dịch ra tiếng Anh. Tôi thích câu này:
“The Deep Stillness
Seeps into the rocks
The voice of the cicadas” (Ken Baker)
Tạm dịch:
“Tĩnh Mịch Sâu Lắng
Ri rỉ giọt vào đá
Tiếng ve kêu.”
Trong thi ca Hoa Kỳ đương đại, John Blair, một trong nhiều nhà thơ nổi tiếng Hoa Kỳ, có một bài thơ dài ca tụng tiếng ve kêu, “Cicada” (7). Khổ thơ đầu tiên viết:
“A youngest brother turns seventeen with a click as good as a roar,
finds the door and is gone.
You listen for that small sound, hear a memory.
The air-raid sirens howled of summer tornadoes, the sound.”
Tạm dịch:
“Chú em út lên mười bảy
bằng một tiếng lách cách mà nghe như tiếng gầm
mở cửa và ra đi
tưởng là nghe tiếng gì nho nhỏ âm vang kỷ niệm.”
(Hóa ra) là tiếng còi báo động không kích hú lên những cơn lốc xoáy mùa Hè.
Thơ Việt Nam hiện đại có rất nhiều bài viết về tiếng ve (8). Tiếng ve trong bài thơ sau đây, “Nụ Hôn Đầu” của Trần Dạ Từ, chỉ đóng vai trò ngoại biên, nhưng thiếu nó có lẽ là thiếu tất cả:
“Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông
Trên môi ta, vạn đóa hồng
Hôn em trời đất một lòng chứa chan
Tiếng cười đâu đó ròn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời
Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh
Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa.”
Nụ hôn vô tiền khoáng hậu: thơm, ngon, ngọt, đẹp, lại vô cùng trong sáng và vô cùng ồn ào. Một nụ hôn ve. Hèn gì mà “tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh.”
Một nhà thơ trẻ sau này, Đinh Thị Như Thúy, diễn tả ve bằng một thứ ngôn ngữ và nhịp điệu khác, mới mẻ và hiện đại hơn trong “Những Ám Ảnh Bất Động:”
“Đó là tháng tư
Tháng của những ve núi rền rĩ trong các vòm xanh
Tháng của những ve núi gắt gỏng lêu nghêu trên các nhánh cành lặng phắc
Em nói: Những con ve không để ai yên
Em nói: Ban đêm chúng ngủ say còn em không sao ngủ được
Em nói: Phải giấu che những chiếc gai nhọn
Em nói: Vì em không phải hoa hồng”
Ve của nhà thơ này nghe có vẻ ngổ ngáo và bướng bỉnh.
***
Thơ ve, nói chung, đa dạng và khá mặn mà.
Với tôi, ve thì nhất định là “ve vui,” không hề là “ve lạnh,” lại càng không thể là “ve sầu!”
Có sầu muộn chia ly thì khi nghe tiếng ve, nếu không vui ra, thì nhất định cũng phải bớt sầu.
Bạn nghĩ sao? (Trần Doãn Nho) [qd]
Chú thích:
(1) Gọi “Dog-Day cicada” vì loại ve này có mặt cùng thời điểm với chòm sao “Dog Star” xuất hiện trên bầu trời buổi sáng sớm, khoảng giữa Tháng Bảy và Tháng Chín.
(2) The Cicada Poems of Ancient Greece: www.atlasobscura.com/articles/o-shrillvoiced-insect-the-cicada-poems-of-ancient-greece
(3) Xem ở Thi Viện: thivien.net
(4) “Vũ Lâm Linh” là tên một nhạc khúc thời Đường do Dã Hồ soạn. Đường Minh Hoàng trên đường đi, nghe tiếng mưa trong rừng ngân như tiếng chuông bỗng nhớ Dương Quý Phi, sai Dã Hồ làm hai khúc “Vũ Lâm Linh” và “Hoàn Ai Nhạc.”
(5) Xem ở Thi Viện: thivien.net
(6) https://suisekiblog.wordpress.com/2017/08/29/a-haiku-by-basho-cicada-voice/
(7) https://poets.org/poem/cicada
(8) Mời nghe Hoàng Ngọc-Tuấn nói chuyện với Tú Trinh (SBS Radio): Con ve sầu trong thơ và nhạc: www.youtube.com/watch?v=rW_MvLX8kAU
























































































