‘Con Chim Đen,’ một truyện ngắn ‘phản-truyện’ của Lữ Kiều

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Nhà văn Lữ Kiều khởi viết rất sớm, ngay từ thời còn học trung học. Truyện “Nước Mắt” sáng tác vào năm 1958, lúc mới 16 tuổi, đoạt Giải Nhất Truyện Ngắn trong cuộc thi văn chương trường Quốc Học niên khóa 1959-1960. Dẫu vậy, anh viết không nhiều.

Nhà văn Lữ Kiều (phải) cùng các nhà văn Trần Hoài Thư, Tô Thẩm Huy, Phạm Văn Nhàn. (Hình: Trần Hoài Thư)

Trong số lượng truyện ngắn ít ỏi đã được in trên báo hay xuất bản thành sách của anh, “Con Chim Đen” (1) có một văn phong cũng như nội dung khá khác lạ so với các truyện khác của anh, mà cũng khá lạ so với những truyện ngắn bình thường của nhiều tác giả khác.

Truyện này được đăng lần đầu tiên trong Nội San Y Khoa năm 1965, sau này xuất hiện trong tập truyện “Trên Đồi Là Lô Cốt” (Thư Ấn Quán 2006).

Truyện khá ngắn, khoảng 2,400 chữ, kể lại một câu chuyện mơ mơ hồ hồ từ đầu cho đến cuối. Có vẻ như Lữ Kiều không cố tình kể một câu chuyện. Có vẻ như anh tìm cách giấu giếm một cách hớ hênh một bí ẩn nào đó mà chính anh cũng không nắm rõ. Hay có vẻ như anh cố tình viết một phản-truyện (anti-story) (2).

Những hình ảnh, sự kiện và chi tiết gói ghém trong những sợi chữ bay lang thang như chẳng cái gì thực sự dính dáng đến cái gì. Một số đoạn từa tựa như những câu thơ xuôi với cách diễn tả nghịch lý; và có khi, nghe như ẩn ngữ.

-“Tôi không nghĩ gì cả và thong dong bơi trong cái vô tri của mình. Cứ như thế, tôi trở về nhà, tưởng như mình bồng bềnh trong bọt rượu.”

-“Người vợ nói gì rất nhỏ và khuất vào nhà sau, trong lúc tôi ngó sững bàn tay mình, tưởng như mơ ngủ trong cái ý thức sáng suốt vô song.”

Truyện có bốn nhân vật (người kể chuyện xưng “tôi,” đứa trẻ, người mẹ, người chồng) và một con chim đen; con chim cũng đóng vai trò của một nhân vật, không những thế, nhân vật chính được chọn làm tựa đề, ấy thế mà sự hiện diện của nó trong truyện không gây ấn tượng gì đặc biệt. Và cả năm đều được Lữ Kiều dựng lên một cách mập mờ.

Chẳng hạn nhân vật “Tôi”: “Tôi không nghĩ gì cả và thong dong bơi trong cái vô tri của mình.” (…) “Tôi không hiểu gì cả. Tôi không nhớ gì cả. Nơi đây như chiêm bao và mọi người như không có thật.”

Chẳng hạn, nhân vật đứa trẻ có “bàn tay bụ bẫm,” nhưng lại “nghiêm nghị như người lớn” và “nụ cười của nó không có vẻ trẻ con.”

Nói chung, các nhân vật và những chi tiết khác trong toàn truyện y như những mảnh hình nằm rải rác đâu đó trong trò chơi ghép hình (puzzles). Muốn hiểu, phải mày mò ráp nối chúng lại. Dẫu vậy, ráp kiểu này hay kiểu kia, chúng vẫn xô lệch, lỏi chỏi, không khớp.

Tập truyện Trên Đồi Là Lô Cốt, tập thơ Lãng Ca, và kịch Kẻ Phá Cầu của Lữ Kiều. (Hình: Tài liệu)

Xin tạm tóm tắt “cốt truyện” như sau:

Một nhà tu ở dưới chân đồi, lên trên đồi thăm một đứa trẻ bị bệnh. Ông khuyên người mẹ nên đưa nó xuống phố để chữa bệnh nhưng bà không chịu mà không nói rõ lý do. Trên đường xuống đồi, ông gặp người chồng đang lên đồi, mang theo cái lồng chim. Ông ta khoe con chim đen trong lồng, và cho biết ông yêu con ông như yêu con chim. Cũng như người mẹ, ông không muốn đưa con xuống phố.

Hôm sau, nhà tu mang thuốc lên cho đứa trẻ. Giữa đường, gặp người chồng xuống đồi, cũng mang theo cái lồng chim, bây giờ trống không, bảo rằng đứa trẻ đã chết tối hôm qua. Nhà tu an ủi và tiếp tục đi lên nhà đứa trẻ. Hóa ra, đứa trẻ không chết. Người mẹ cho biết bệnh đứa trẻ đã đỡ và người chồng không hề về nhà tối hôm qua.

Khi nhà tu ra về thì đứa trẻ chạy theo cho biết là bà mẹ đã nói dối. Đêm qua, người chồng có về, nhưng người mẹ không cho vào nhà, ông phải ngủ ngoài trời, và nửa đêm, cậu trốn mẹ ra ngủ với ông. Nó cho  biết là con chim đã chết, được chôn tại gốc cây. Đứa trẻ chạy đến bới một nấm đất nằm gần đó. Giữa lỗ trũng là một con chim đen chết cứng. Hết!

Mấu chốt của “câu chuyện” nằm ở liên hệ bí ẩn có tính cách “siêu hình” giữa đứa trẻ và con chim đen. Đứa trẻ xem con chim cũng là một “đứa trẻ” như mình. Diễn tả cái chết của con chim đen, nó nói:

“…Đêm qua ba cháu về nhưng mẹ cháu không cho vào. Cháu đợi đêm khuya, lẻn ra sân, cháu và ba cháu nằm giữa cỏ, nhìn lên trời. Bây giờ cháu nghe tiếng cỏ mọc. Phải, tiếng cỏ mọc. Ba cháu nói khi nào cháu nghe được tiếng cỏ nhú khỏi lòng đất, thì một đứa trẻ tên Hà sẽ lại chơi với cháu. Ông biết đó, cháu vẫn một mình từ khi sinh ra. Đêm qua, đứa nhỏ tên Hà đã lại, cháu đã quen nó. Trong giấc ngủ, giữa trời, gió và sao. Khi cháu thức dậy, nó biến mất. Đứa trẻ tên Hà đã chết…”

Đọc xong toàn truyện, thay vì cảm thấy hứng thú vì hiểu ra ý nghĩa của câu chuyện, thì ở đây độc giả tìm thấy chỉ toàn là câu hỏi: Hà là tên của đứa trẻ hay tên con chim? Con chim chỉ là con chim hay là hiện thân của chính đứa trẻ hay hiện thân của một đứa trẻ nào khác? Con chim chết có liên hệ gì đến chuyện đứa trẻ đau? Tại sao đứa trẻ nhắc đến “tiếng cỏ mọc” nhiều lần? Nó ám chỉ cái gì và có ý nghĩa gì? Vân vân và vân vân.

Cùng một sự kiện là đứa trẻ đau và con chim đen chết, nhưng mỗi một trong bốn nhân vật đều “nhìn” chúng hoàn toàn khác nhau, từ góc độ riêng của mỗi người. Và ngay người kể chuyện (nhân vật “tôi”, tức là tác giả) cũng thú nhận là không hiểu rõ câu chuyện mà cũng không hiểu rõ cả chính mình.

Đọc xong truyện “Con Chim Đen,” tôi liên tưởng ngay đến, trước hết, truyện ngắn “Yabu no naka” (In a Grove = Trong Khu Rừng) (3) của nhà văn Nhật Akutagawa Ryunosuke, được chuyển thành phim “Rashomon” (Lã Sanh Môn) lừng lẫy một thời (1950); và sau đó, bài thơ của nhà thơ Mỹ Wallace Stevens, “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách nhìn vào một con chim đen) (4).

“Yabu no naka” dựng lại cái chết bí ẩn của một võ sĩ đạo trong một khu rừng qua lời tường thuật của chỉ ba người trong cuộc: tên cướp, người võ sĩ và vợ của anh ta. Cả ba người đều diễn tả thảm kịch bằng những câu chuyện khác nhau. Tên cướp kể rằng hắn đã cưỡng hiệp người vợ và giết người chồng qua một cuộc so kiếm; người vợ kể rằng chị ta cảm thấy nhục nhã vì bị chồng khinh bỉ sau vụ cưỡng hiếp nên giết chồng; người chồng chết được chiêu hồn lên, kể rằng anh cảm thấy nhục nhã vì vợ bị cưỡng hiếp mà lại tỏ ra vẫn có cảm tình với tên cướp, nên tự kết liễu đời mình. Ai cũng nhận mình là thủ phạm nên rốt cuộc không ai biết thực sự thì vụ giết người đã xảy ra như thế nào.

Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhà văn Lữ Kiều, và Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Mượn Dấu Thời Gian)

“Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” gồm có mười ba khổ thơ, mỗi khổ ngắn gọn trong vài ba câu như là một tiểu thi riêng biệt, lấy hình ảnh một con chim đen làm điểm quy chiếu. Bài thơ đề cập đến mười ba cách nhìn thấy con chim và cách nhận thức sự có mặt của nó một cách hoàn toàn khác nhau. Người thì thấy đó chỉ là đôi mắt chuyển động của một con chim đem đứng im trong tuyết; người thì thấy gió mùa Thu thổi bay con chim trong không khí; người thì thấy con chim đen ngủ yên trên cành cây… Không những khác nhau mà có khi còn mâu thuẫn nhau. Hiện thực, như thế, lệ thuộc vào từng người và lệ thuộc vào vị trí, vào cảm quan và vào thời điểm mà hiện thực xuất hiện. Không có một chân lý khách quan nào và chân lý không chỉ có một. Lấy hình ảnh con chim như một cái cớ, bài thơ nhằm gợi nên những “cảm giác” nào đó trong lòng độc giả hơn là lập một một chuỗi luận cứ về con chim.

Chỉ là liên tưởng riêng của tôi trong tư cách một độc giả.

Trong lời cuối truyện viết vào Tháng Bảy, 2006, Lữ Kiều cho biết anh viết “Con Chim Đen” “…vào thời 22 tuổi, những tháng ngày đắm chìm trong rừng sách triết học cổ điển và hiện đại. Hơn 40 năm sau, đọc lại, (…) Vẫn cảm giác bồi hồi như xưa về một con chim đen chết cứng, về một tiếng cỏ mọc trong tâm linh.”

Thì ra thế: tiếng cỏ mọc trong tâm linh!

Vào tuổi 22, lại đang theo học Y Khoa, một ngành học chỉ chuyên về sự kiện, về hiện thực, về sự chính xác, Lữ Kiều nhảy phóc ra khỏi môi trường của mình, lặn sâu vào cõi tâm linh hư ảo. Những gì ta biết, ta thấy, ta nghe… là thực hay hư? Băn khoăn này đeo đẳng tác giả không những trong truyện này mà còn trong nhiều truyện khác, dù cung cách diễn đạt có khác nhau. Rốt cuộc, trong cuộc đời, phải chăng con người dường như chỉ đối diện với những câu hỏi hơn là câu trả lời?!

***

Lữ Kiều, tên thật Thân Trọng Minh, bác sĩ Y Khoa, sinh năm 1942 tại Huế, cộng tác thường xuyên với nhiều tạp chí văn học trong và ngoài nước. Ngoài sáng tác truyện, anh còn viết kịch và vẽ tranh. Các tác phẩm đã xuất bản:

-Lãng Ca (tập thơ).

-Trên Đồi Là Lô Cốt (tập truyện).

-Chàng Nho Sinh Dưới Gốc Tùng (ký/tùy bút).

-Kẻ Phá Cầu (kịch).

-Con Sâu Trong Mắt (kịch). [qd]

Chú thích:

(1) Vào xem toàn truyện ở: http://phannguyenartist.blogspot.com/2017/04/lu-kieu.html

(2) Một loại truyện trong đó tác giả cố tình phá vỡ những quy luật quy ước trong kỹ thuật dựng truyện thông thường về cốt truyện, nhân vật, câu hay cách chấm câu…

(3) “Yabu no naka,” bản tiếng Việt “Trong Rừng Trúc,” dịch giả Phong Vũ, do Hội Nhà Văn xuất bản 1989

(4) Thirteen Ways of Looking at a Blackbird by… | Poetry Foundation

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT