Đâu rồi cây nêu, tràng pháo…

Mặc Lâm

Ông bà chúng ta có hai câu đối thuần Việt rất hay để diễn tả ngày Tết:“Thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo bánh chưng xanh.”

Mỗi độ Xuân về, nhà nhà thường dán những câu đối chúc mừng ở trước cửa. (Hình: Sang Tran/Unsplash)

Chỉ chừng đó, mọi thứ cần thiết để hình thành một cái Tết Nguyên Đán hiển hiện ngay trước mắt. Hai câu đối này không những mang hình ảnh sống động của văn hóa ẩm thực ngày Tết mà còn chở nặng cái tinh túy mà ngày Tết mang lại cho chúng ta, trong đó cây nêu và tràng pháo đã nhấn mạnh đến.

Tôi tin rằng nếu người đọc bài này ở độ tuổi 60 không mấy ai nhìn thấy cây nêu một lần trong đời. Chính bản thân tôi khi lên 8 chỉ một lần thấy cây nêu trong khuôn viên của ngôi đình tại vùng quê tỉnh Bình Thuận. Cây nêu đối với tôi lúc ấy trông rất đáng… sợ vì nó treo lên mình không biết bao nhiêu thứ khiến một đứa con nít có gan dạ cách mấy cũng thụt lùi khi có thằng nhóc nào ở phía sau đùn đẩy. Thật vậy, trong trí nhớ của tôi cây nêu là một thân tre già đầy những đốt. Màu xanh mướt của tre là thứ duy nhất hấp dẫn ánh mắt bọn trẻ con, những thứ còn lại đều gây ám ảnh và có đôi phần hù dọa.

Trên cùng của cây tre ấy người ta treo cái niềng xe đạp với những tua vải đầy hình thù kỳ dị móc trên cái vòng tròn của cái niềng xe ấy. Một dải vải màu vàng đậm thả dài xuống thân tre phất phới trong gió và những chiếc chuông nhỏ động đậy leng keng không ngừng như đang xua đuổi tà ma. Thật vậy, sau này nghe người lớn giải thích mới biết rằng những mảnh vải viết đầy bùa chú cộng với tiếng chuông từ hàng chục cái chuông lớn nhỏ để xua đuổi ma quỷ bảo vệ cho con người trong mấy ngày Tết Nguyên Đán. Cây nêu được trồng giữa sân đình và nó là vật duy nhất khiến người ta phải ngước lên vì cái đình làng tôi nhỏ và thấp. Gạch lót sân bị nạy lên để trồng cây nêu và sau đó lấp lại một cách sơ sài khiến cái sân có một cái hố lởm chởm không còn nguyên vẹn như xưa.

Cây nêu đối với tôi là một hình ảnh không mấy thiện cảm mặc dù người lớn trong xóm ai đi xem về cũng trầm trồ. Vì còn nhỏ quá tôi không kịp hiểu họ trầm trồ vì cây tre hay vì bùa chú treo trên mình nó. Từ đó về sau tôi không nhớ đã bao nhiêu năm không thấy lại cây nêu trong lúc những thứ đi chung với ngày Tết trong câu đối ngày một dắt tay nhau ra đi không ai tiễn biệt chúng.

Pháo Tết ngày đầu năm tại thương xá Phước Lộc Thọ trên đường Bolsa, thành phố Westminster, thuộc khu Little Saigon ở Nam California. (Hình: Allen J. Schaben/Los Angeles Times via Getty Images)

Nếu cây nêu vắng bóng mà không thấy ai thương cảm thì tràng pháo biến mất có lẽ là một mất mát không gì bù đắp được cho cái Tết Việt Nam. Ngày 8 Tháng Tám, 1994, ông Võ Văn Kiệt, thủ tướng, ban hành chỉ thị cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo. Đây là chỉ thị mang tính lịch sử bởi thói quen sản xuất, buôn bán và đốt pháo đã tồn tại từ hàng ngàn năm đối với người Việt Nam. Việc cấm đoán này xuất phát từ hàng ngàn tai nạn xảy ra từ pháo và lệnh cấm tuy làm cho rất nhiều cơ sở sản xuất pháo lâm vào đường cùng nhưng không ai chống lại. Thứ nhất người dân không thể chống lực lượng chức năng trang bị tận răng, thứ hai người dân thích pháo, đã đành, nhưng không thể bỏ tất cả để chống lại cái lệnh thủ tiêu sở thích của mình và gia đình. Bắt đầu từ đó, tiếng pháo vĩnh viễn ra đi bỏ lại những cái Tết lặng lẽ vì không tiếng pháo.

Tuổi thơ Việt Nam dính liền với pháo. Ngay từ ngày 23 Tháng Chạp khi mâm cúng ông Táo vừa xong là bọn trẻ hăm hở ngồi chung quanh sân nhà chờ đốt phong pháo tiễn ông Công ông Táo. Ăn ké với phong pháo gia đình, bọn trẻ con chúng tôi đứa nào cũng thủ sẵn vài viên pháo lẻ còn bị gọi là pháo chuột trong túi và sẵn sàng cong đít lên cầm nén nhang vừa run vừa hồi hộp châm vào viên pháo ấy. Có khi nó nổ tung rất vui tai nhưng cũng không hiếm khi pháo tịt ngòi, chỉ một tiếng xèo ngắn ngủn!

Và sau cái ngày 23 Tết lại tới Giao Thừa, lại rộn rã tiếng pháo khắp nơi như cùng nhau lấy pháo làm thước đo cho cái Tết năm ấy. Pháo càng nhiều thì sức sống người dân càng vững mạnh. Pháo giòn tan, không ngưng vì lép vì xì thì năm ấy làm ăn thế nào cũng khá hơn. Những tràng pháo liên thanh nối đuôi nhau làm thành một bức tường âm thanh kỳ diệu khiến cho tâm hồn con người như được tắm gội những hương liệu quý giá khiến buồn bực, lo toan, đau khổ hay tuyệt vọng đều tan biến trong một khoảnh khắc khi mà khói pháo thơm nồng vào tận từng gia đình như an ủi, vỗ về và hứa hẹn một ngày mai khác hẳn những ngày vừa qua.

Tiếng pháo ngày Tết là thứ thuốc có thể làm cho con người yêu đời và vì vậy cộng đồng trở thành thân thuộc hơn trong ánh mắt mọi người. Bọn trẻ con mặc quần áo mới với nén nhang trong tay tìm chỗ thích hợp đốt viên pháo chuột trong ba ngày Tết là hình ảnh khó phai trong trí nhớ chúng ta cho dù đã qua đi mấy chục năm rồi. Thiếu những hình ảnh sinh động ấy Tết giống như thiếu hẳn linh hồn. Tết không tiếng pháo không những làm trẻ con ngơ ngác mà chính người lớn chúng ta cũng tự thương mình hơn, bởi sở thích, truyền thống, văn hóa của ông cha cũng quy hàng một ý chí, một quyết định.

Nồi thịt kho ngày Tết. (Hình: Nguyễn Lập Hậu)

Cây nêu và tràng pháo đã ra đi, nhưng thực ra trước chúng rất lâu những câu đối đỏ đã cắp nón về hưu từ lúc nào rồi. Ít nhất là từ năm 1936 khi bài thơ “Ông Đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên đăng trên báo Tinh Hoa thì người ta mới giật mình nhìn khắp chung quanh và phát hiện ra không còn ai sắm câu đối trong ba ngày Tết nữa.

Sự mất dấu của câu đối rất dễ lý giải và nhìn sâu hơn một chút chúng ta thấy ra không gì ngăn cản được vết xe thời gian sẵn sàng báo mòn bất cứ thứ gì không còn phù hợp với nhịp sống con người. Chữ Hán sau hàng ngàn năm “thế thiên hành đạo” đã cắp nón ra đi khi chữ quốc ngữ hình thành. Người Việt không mấy người đọc thông viết thạo chữ Hán để tự mình thưởng thức cái phong phú trong từng nét bút trên tờ giấy đỏ mùa Xuân. Câu đối tự mình biến mất như những loại hình trình diễn khác, thay vào đó một cách khiên cưỡng là phong trào thư pháp xuất hiện thay cho sự ra đi của câu đối.

Thư pháp dù sao cũng dễ chấp nhận hơn câu đối. Thường là một chữ như Phúc, Tâm, An hay Nhẫn, Thọ… trong từng con chữ ấy ngoài nét uốn lượn cho ra vẻ chữ Hán, ý nghĩa mà người mua cần cũng được người viết nắn nót sao cho cả hai vừa lòng. Chữ thường là màu đen đôi khi vàng nhũ trên nền giấy đỏ đã phần nào thay thế cho một khoảng thời gian rất dài người Việt đã gắn chặt cái Tết của mình vào nét bay bổng của con chữ Trung Hoa.

Như vậy là ba thứ truyền thống của cái Tết Việt không còn nữa. Cả ba thứ ấy biến mất nhưng một thứ khác quan trọng không kém cũng đang bị đe dọa biến mất trong thời gian không xa nữa. Đó là thịt mỡ!

Nồi thịt kho ngày Tết đi kèm với dưa hành là thứ mà chúng ta không thể thiếu. Dưa hành là món ăn kèm, lại vô hại và có thể ăn quanh năm nhưng thịt mỡ là thứ không phải ai cũng vỗ tay chấp nhận. Trong thời buổi mà vòng đo tỉ lệ thuận với thức ăn như hiện nay người ta sẵn sàng thay đổi món thịt mỡ bằng một thứ khác cho gia đình vì bà nội trợ lo lắng không những cho cái vòng bụng của mình mà còn là cholesterol cho cả nhà. Mỡ là hình ảnh khó chấp nhận trong gian bếp Việt hơn bất cứ thứ gì, ngay cả trong nước hiện nay mỡ heo bị xem như nguyên nhân gây nhiều tai họa nhất trong món ăn hằng ngày. Và khi mỡ cũng biến mất thì cái Tết Việt Nam còn lại những gì?

Mẹ và con đi sắm Tết tại thương xá Phước Lộc Thọ trong khu Little Saigon, California, nơi có cộng đồng gốc Việt lớn nhất tại hải ngoại. (Hình: Allen J. Schaben/Los Angeles Times via Getty Images)

Thứ chắc chắn sống sót với Tết là hoa. Những cành đào, mai, thọ, thược dược, cúc sẽ thay pháo, thay thịt mỡ khoe hương sắc trong từng gia đình. Hoa không thể thay thế hết mọi thứ nhưng ít ra nó cũng tạo cảm giác mùa Xuân, thứ cần thiết nhất cho con người trong tất cả bốn mùa. Bên cạnh hoa chúng ta còn kẹo mứt và những thứ thức ăn nhẹ nhàng khác. Nói nhẹ nhàng cho dễ hình dung nhưng mấy ai biết nó sẽ bị đào thải lúc nào! Thịt đông, giò thủ, củ kiệu, tôm khô hay hằng chục món thích hợp với Tết không hề thiếu dù bất cứ ở đâu. Bên cạnh bánh chưng bánh tét, Tết cũng có thể vui và ồn ào một lúc với sòng bầu cua ngay trong nhà mình! Thử tưởng tượng cả nhà vây chung quanh tờ giấy in hình mấy con cua nai bầu cá… hồi hộp chờ cái thau được giở lên với ba cái hột giấy có hình ảnh mà mình mua! Vui biết mấy, nhất là Tết ở hải ngoại nếu trùng với ngày cuối tuần!

Còn một thứ không kém quan trọng trong ba ngày Tết phải có, đó là báo Xuân. Đã mấy chục năm rồi từ trong nước ngay cả những lúc khó khăn nhất thì tờ báo Xuân vẫn không lúc nào biến mất. Tờ báo được đặt một nơi trang trọng trong gia đình cho người cha, người ông cầm nó đọc rất kỹ vào sáng Mùng Một Tết. Từng trang từng trang được lật qua như cuộc đời của từng thành viên trong gia đình. Hương vị ngày Tết có hay không cũng một phần tiết ra từ những bài báo Xuân. Có bài viết về câu chuyện của con vật ngày Tết với những chi tiết gần như lặp đi lặp lại trong nhiều năm, vậy mà lạ, không ai phàn nàn về những chi tiết này… hình như không khí mùa Xuân phần nào làm dịu lại sự khó tính của con người nhất là ngày Tết, ngày mà mọi phàn nàn, chỉ trích, chê bai đều không nên có.

Báo Xuân ngày Tết mỗi năm lại đẹp hơn bởi sự tiến bộ của in ấn một phần, phần khác do nhiều người xem và trông đợi hơn, nó trở thành một yếu tố không thể thiếu trong ba ngày Tết. Nếu ở trong nước báo Xuân được đặt trang trọng ngay trong phòng khách thì ở hải ngoại nó không được như vậy, thường là nằm trên xe để khi kẹt xe đọc một chút, hay trong phòng ngủ đọc vài trang cho mỏi mắt, dưới nhà bếp… Tờ báo có thể đặt bất cứ đâu cho dễ thấy nhất và vì vậy được xem trọn vẹn nhất.

Ngay cả đọc báo Xuân đã như vậy thì thử hỏi những lực cản khác trong ngày Tết làm sao tính hết? Rồi đây khi chúng ta ăn Tết như người Mỹ ăn Thanksgiving, như người Âu Châu ăn Giáng Sinh, đơn giản và đầy không khí gia đình hơn với hàng chục thứ bị lược bỏ, lúc ấy mấy ai còn rảnh rỗi ngồi một mình tính tới sự còn mất trong ba ngày Tết?

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT