Chất tùy bút trong chính luận Trần Trung Đạo

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Trong suốt hơn bốn thập niên định cư ở hải ngoại, Trần Trung Đạo miệt mài hoạt động và miệt mài viết.

Trần Trung Đạo. (Hình: Facebook Trần Trung Đạo)

Trước hết, anh làm thơ. Đã một thời, tiếng thơ Trần Trung Đạo cũng là tiếng lòng của những người con lưu lạc xứ người. Bắt đầu từ cuối thập niên 1990, anh cho biết, anh “ngưng làm thơ” để “tập trung viết bình luận chính trị cho các báo Việt Ngữ tại hải ngoại.” Từ đó, anh trở thành một nhà chính luận.

Các tác phẩm của anh xuất hiện đều đặn, liên tục trên các tạp chí mạng và giấy trong suốt hơn hai thập niên, bây giờ được tập hợp lại trong bộ “Chính Luận Trần Trung Đạo” bốn tập dày dặn, với hơn 220 bài, trải dài trên 2,000 trang.

Được viết dưới dạng, hoặc là những tiểu luận chuyên môn hoặc là những tạp bút hay bút ký, tập chính luận tâm huyết này đề cập đến nhiều đề tài khác nhau: từ các sự kiện thời sự nóng hổi cho đến các nhân vật và biến cố lịch sử; từ các cuộc tranh chấp hay chiến tranh cho đến các vấn đề tư tưởng; từ những vấn nạn quốc gia đại sự cho đến các sinh hoạt đời thường; từ những sự kiện xã hội cho đến các bi kịch cá nhân.

Có gì khác nhau giữa thơ và chính luận? Khác nhiều, tất nhiên. Thơ dựa vào xúc cảm; chính luận dựa vào lý trí. Thơ sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh; chính luận sử dụng tài liệu và sự kiện. Thơ lang man, chính luận chặt chẽ.

Thế nhưng, ở chính luận Trần Trung Đạo, dường như cảm hứng thơ của anh không hề biến mất. Có lẽ do ở chỗ anh đã sống, đã làm người tình với thơ quá lâu, ngay từ thời thơ ấu. Chính vì thế, trong một số bài, tôi tìm thấy dấu vết và âm hưởng – cách này hoặc cách khác – của những bài thơ da diết tình người tình nước của anh dạo nào, như “Em Bé Việt Nam Và Viên Sỏi,” “Thương Paris Như Nỗi Nhớ Sài Gòn,” “Con Sinh Ra Trên Đất Mỹ”… Đọc, tưởng như anh ngồi viết chính luận trong tâm cảm của một nhà thơ.

Trong một số bài khác, tuy tính chính luận bao trùm qua các dữ kiện và số liệu tham khảo, nhưng cách diễn đạt không hoàn toàn khô khan, duy lý như một nhà nghiên cứu tháp ngà chỉ biết chăm chăm đi một mạch từ tiền đề đến phản đề rồi kết luận.

Ngược lại, anh biến những gì sưu khảo được thành những “sinh thể,” những “sự vật” có liên quan đến đời sống và tâm tư tình cảm chính mình. Có vẻ như anh không tìm cách lập thuyết để trở thành một học giả, muốn hoàn tất các công trình học thuật để đời. Cũng không băn khoăn suy ngẫm về những vấn đề triết lý xa vời như hư vô-tồn tại, như chuyện tử sinh, như “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi,” như chuyện thành bại hay những dằn vặt hơn thua cuộc đời.

Thay vào đó, anh hoàn toàn tập trung vào một cùng đích: đất nước Việt Nam. Dù chuyện lớn hay chuyện nhỏ, tất cả đều chỉ là cái cớ. Ngừng đèn đỏ ở thành phố Nara bên Nhật, anh suy ngẫm về tinh thần tôn sư trọng đạo thời Việt Nam Cộng Hòa; nhân chuyến viếng thăm Việt Nam bốn ngày của hàng không mẫu hạm Mỹ USS Carl Vinson, anh nghĩ đến “con thuyền không bến” của nước Việt Nam hiện nay; nghiên cứu bài học “thoát Nga” của quốc gia Lithuania, anh tìm thấy những tiền đề thích hợp mà Việt Nam có thể áp dụng để đương đầu với Trung Quốc. Không đâu thiếu vắng bóng dáng Việt Nam.

Nói cho đúng, chính luận Trần Trung Đạo không hoàn toàn là chính luận, mà tiềm ẩn trong đó là những ray rứt và thao thức. Trong một bài tưởng niệm Tháng Tư, anh ngậm ngùi: “Nhìn viên đạn của Nga và Tàu, tôi nghĩ đến trái tim của người lính trẻ miền Nam, giống như khi nhìn chiếc chiến đấu cơ của Mỹ cất cánh tôi chợt nghĩ đến các anh lính từ miền Bắc xấu số đang di chuyển bên kia sông Thu Bồn. Vũ khí là của các đế quốc. Không có khẩu súng nào chế tạo ở miền Nam hay miền Bắc. Các bà mẹ Việt Nam chỉ chế tạo được những đứa con và đóng góp phần xương máu.” (Câu Hỏi Tháng Tư)

Chính ở điểm này, tôi tìm thấy một đặc điểm trong lối viết chính luận Trần Trung Đạo: chất tùy bút.

Tính cách này xuất hiện rất rõ ở những tạp bút, bút ký và thấp thoáng xuất hiện – cũng có khi chen khá sâu vào – trong những trang nghiên cứu có tính cách chuyên môn. Chất tùy bút hầu như đóng vai trò chính trong một số ít bài nằm lai rai ở tập này tập kia, nhiều nhất là ở tập hai (II).

Một trích đoạn nói về thời thơ ấu ở quê nhà: “Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Nam, nơi đã từng diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt. Phần lớn các ông anh họ của tôi, ra đi theo bên này hay bên kia, đều không trở lại. Những ngày còn bé, tôi thường đứng xem những chuyến trực thăng tải thương hạ cánh trong sân trường cấp một của tôi. Trong số những người chết trên đường đến bệnh xá, có người bên này và cũng có cả người ở phía bên kia. Họ có thể khác nhau khi còn sống vì khẩu súng họ mang, chiếc áo họ mặc, chiếc mũ họ đội, nhưng lại rất giống nhau khi đã chết, vẫn mái tóc đen, vẫn màu da vàng sạm nắng, và ở một nơi nào đó trên đất nước mình, những người mẹ Việt Nam vẫn ngày đêm mong ngày họ trở về trong căn nhà tranh, bên ngọn đèn dầu hiu hắt. Cánh cửa nhà mẹ cũng như cánh cửa tâm hồn mẹ vẫn mở, vẫn đợi chờ và đợi chờ.” (Nỗi Đau Chưa Thấm)

Giọng văn và hơi văn như thế, dù trong chuyện nhỏ hay chuyện lớn, đều nghe khắc khoải nỗi niềm, nghe da diết ưu tư, đậm đà tính cách tùy bút.

Buổi giới thiệu tác phẩm “Chính Luận” của Trần Trung Đạo. (Hình: Facebook Trần Trung Đạo)

Tùy bút là gì?

Nhà văn Trịnh Y Thư tóm gọn: “Tùy bút là một thể tài văn xuôi không đề tài nhất định, theo dòng cảm hứng mà viết, tùy hứng mà phóng bút. Nó tựa như nghị luận mà không phải nghị luận, bởi nó tùy hứng và đầy cảm xúc chủ quan (…) không cao kỳ, mà hấp dẫn, thân mật như câu chuyện tâm tình giữa hai người tri kỷ. Vì đề tài phóng túng, tùy cảm hứng mà viết nên tùy bút rất thích hợp với những tâm hồn văn chương yêu chuộng tự do, không thích cái cương tỏa của hàn lâm, cái chiết tỏa của giáo điều.”

Tính cách đó khiến ngôn ngữ tùy bút thường khá gần gũi với ngôn ngữ thơ. Tùy bút đưa hơi thở đời sống vào thế giới khô khan của lập luận, thổi cái động vài cái tĩnh. Nó vừa làm cho các con số và sự kiện “mềm” đi, đồng thời tăng cường thêm sức thuyết phục. Chính đó là một trong những yếu tố khiến các bài chính luận của Trần Trung Đạo thường có sức lôi cuốn đối với nhiều thành phần độc giả, nhất là những độc giả ưu tư thời cuộc và mặn mà tình quê hương.

Anh không chỉ viết cho cá nhân anh, mà cho cả nhiều thế hệ khác cùng lớn lên và được hưởng thụ cuộc sống tự do của xã hội miền Nam trước 1975. Trong một số bài của anh, tôi tìm thấy chính mình ở trong đó: đọc anh, tôi cứ tưởng như đọc bài viết của mình.

Chẳng hạn khung cảnh của Sài Gòn trong hai năm cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa: “Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón Xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn Hải Quân Trung Cộng đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tố cáo Trung Cộng xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.” (Tuổi Trẻ Việt Nam, Học Lịch Sử Để Làm Lịch Sử)

Riêng đối với cá nhân tôi, một trong số nhiều nhân vật Trần Trung Đạo viết sâu và viết kỹ (đến hai bài) mà tôi rất mến mộ là Nelson Mandela, cựu tổng thống Nam Phi, một chính gia mà cũng là một nhân cách lạ thường, hiếm có. Với giọng văn lẫn lộn vừa tự sự vừa bày tỏ tâm tình, anh đã dựng nên hình ảnh Mandela, không như một vĩ nhân, không như một bậc thánh, cũng không như một anh hùng “sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta,” mà như một người sống trong, sống bằng và sống với nghịch cảnh và vượt lên nghịch cảnh để tồn tại và đi tới.

Ngoài sự chịu đựng bi kịch chung của đất nước, Mandela còn chịu đựng một bi kịch hoàn toàn cá nhân, bi kịch tình yêu: “Khi còn ở trong tù, Nelson Mandela đã biết vợ mình đang ngoại tình với Dali Mpofu, một luật sư nhỏ hơn bà 27 tuổi. Việc ngoại tình giữa Winnie Mandela và Dali Mpofu còn lén lút kéo dài ngay cả sau khi Mandela được tự do. Bà Winnie gặp Nelson Mandela khi chỉ mới 23 tuổi và Mandela đã gần 40 tuổi. Họ yêu nhau và cưới nhau trong vội vàng. Ba năm sau, Mandela rút vào hoạt động bí mật cho đến ngày bị bắt và vào tù. Winnie Mandela viết trong hồi ký ‘Tôi có rất ít thời gian để yêu chồng.’ Khi biết vợ ngoại tình, Mandela dĩ nhiên đau xót nhưng cảm thông và tha thứ. Ông chỉ viết thư yêu cầu bà Winnie đưa tình nhân ra khỏi nhà.” (Bước Đường Dài Đến Tự Do của Nelson Mandela)

Viết về nhân vật này, Trần Trung Đạo dường như có ý thả lỏng ngòi bút của mình, tự do bay nhảy trong thế giới suy ngẫm và cảm xúc cá nhân. Rốt cuộc, theo anh, một trong những thành tựu lớn nhất của Mandela, chính là sự hòa giải: hòa giải với xã hội, với đất nước, với kẻ thù và với chính mình.

“Người kêu gọi hòa giải trước hết phải hòa giải được với chính mình, nếu không, đó chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền chính trị được dùng để lừa gạt người khác. Nelson Mandela đã hòa giải được với một Nelson Mandela trong lòng chất chứa hận thù chủng tộc, với một Nelson Mandela từng chủ trương khởi nghĩa võ trang như con đường duy nhất để xóa bỏ ách thống trị của thiểu số da trắng, với một Nelson Mandela 27 năm sống trong xà lim chật hẹp đầy bóng tối, với một Nelson Mandela đang bị vi trùng lao đục phá hai lá phổi, với một Nelson Mandela thân cộng sản, trước khi hòa giải cả đất nước Nam Phi.” (Nelson Mandela và Tiến Trình Hòa Giải Tại Nam Phi)

Hiếm có nhận định nào chính xác hơn!

Nghĩ đến Nelson Mandela, tôi tự hỏi: Biết bao giờ Việt Nam ta mới có được một “nhân cách” lớn lao như thế, để hàn gắn lòng người. (Trần Doãn Nho) [qd]


Trần Trung Ðạo, tên thật Trần Văn Nhơn, sinh năm 1955 tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Vượt biên và định cư tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ vào cuối Tháng Mười Một, 1981.

Anh tốt nghiệp kỹ sư điện và cao học về “Information Management Systems” tại Boston University.

Từ Tháng Tám, 1994, anh làm việc cho hãng đầu tư tài chánh “Fidelity Investments” tại Boston suốt 22 năm, qua nhiều chức vụ khác nhau. Về hưu, hiện cư ngụ tại Boston.

Anh đã xuất bản gần 20 tác phẩm gồm thơ, tùy bút và chính luận, tiêu biểu có “Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” (thơ), “Thao Thức” (thơ), “Thơ Trần Trung Đạo,” “Giấc Mơ Việt Nam” (tùy bút và truyện ngắn), “Tâm Bút Trần Trung Đạo” (văn), “Cuộc Đời Chính Trị và Tình Dục của Mao Trạch Đông” (dịch), “Chính Luận” (bốn tập).


 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT