Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở địa chỉ: 17151 Newhope Street, Suite 113, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080, website: www.lylylaw.com
Luật Sư LyLy Nguyễn

Theo luật hôn nhân Hoa Kỳ, “hôn ước” là một văn bản lập trước khi cưới có mục đích minh định quyền hạn và trách nhiệm giữa vợ chồng sau này đối với vấn đề tài sản và tiền bạc của từng người kể cả những gì sẽ xẩy ra khi ly dị.
Như đã đề cập kỳ trước, mặc dù luật hôn nhân (matrimonial laws) biến đổi khá rộng rãi tùy từng tiểu bang nhưng nội dung của hôn ước đều tương tự như nhau. “Hôn ước” – nói ngắn của “khế ước tiền-hôn-nhân” (“Prenuptial Agreement” gọi tắt “prenup”) – là một văn kiện ký kết giữa một cặp nam nữ trước khi thành hôn. Thông thường văn bản này liệt kê tài sản riêng cùng mọi nợ nần của cá nhân hai người trước ngày cưới và định rõ quyền hạn từng người đối với các tài sản này về sau khi đã thành vợ chồng.
Tổng quát ra luật lệ chi phối về tính cách hợp lệ của “hôn ước” đều khác nhau tùy mỗi tiểu bang. Nói chung căn bản của hôn ước hợp lệ phải là một văn kiện có chữ ký của hai người vị hôn phối lập giao ước với nhau. Tại phần đông tiểu bang, cả hai người ký kết – nhất là người nào giầu hơn – phải tiết lộ rõ ràng cho người kia biết lợi tức và tài sản mình hiện có. Làm như vậy cả hai bên sẽ biết chắc những điều mình có thể nhượng bộ.
Đôi khi cũng khó mà xác nhận chính xác về số tài sản riêng của mỗi người. Thí dụ nếu người vợ hay chồng là sở hữu chủ một nghiệp vụ tiểu thương (closely-held business) – là nghiệp vụ không phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán – thì rất khó mà xác định được trị giá thật sự của nghiệp vụ đó. Trong hoàn cảnh này thông thường tốt hơn hết là thừa nhận khó khăn trong việc đánh giá chính xác nghiệp vụ này, rồi sau đó mới ấn định giá trị tối thiểu tài sản mỗi bên đang sở hữu.
Để được hợp lệ, bản hôn ước không phải là kết quả của lừa gạt hoặc cưỡng ép. Một bản hôn ước kể như bất hợp lệ trên căn bản lừa gạt nếu một trong hai người – nhất là người giàu hơn – cố tình nói sai về tình trạng tài chánh của mình. Lấy thí dụ nếu một người đàn ông giấu diếm người vợ sắp cưới về số tài sản thật sự sở hữu để người vợ tương lai chịu nhận trợ cấp ít hơn trong trường hợp về sau nếu ly dị, thì tòa án chắc chắn cho hồ sơ này là bất hợp lệ. Cũng tương tự, nếu một người đàn ông cố tình làm áp lực tình cảm để người vợ sắp cưới thuận ký thì tòa cũng có thể tuyên phán hôn ước này vô hiệu lực vì lý do cưỡng ép.
Muốn tránh cho hôn ước khỏi có vẻ cưỡng ép và để cho đôi bên phối ngẫu có dư thì giờ chiêm nghiệm rõ ràng nội dung tốt hơn hết nên lập bản hôn ước khá lâu trước khi làm đám cưới. Nhiều tiểu bang không đặt thời hạn lâu mau mới phải ký xong bản hôn ước, nhưng thời gian mà đôi bên vị hôn phối nghĩ đến việc lập hôn ước càng lâu bao nhiêu thì tòa án càng tin tưởng là hai người tự ý tình nguyện ký kết. Nếu người giầu hơn đưa bản hôn ước cho người vị hôn phối ký một ngày trước khi làm đám cưới, sau này tòa án có thể xử là bất hợp lệ vì lý do cưỡng ép. Bản hôn ước ký vào phút cuối tuy không bị tự động coi như bất hợp lệ, nhưng vấn đề thời hạn là yếu tố tối quan trọng trong việc phân xử xem hôn ước có hợp lệ hay không.
Thông thường luật sư của người vị hôn phối giàu hơn sẽ viết dự thảo bản hôn ước. Về phần người kém giầu và luật sư của người ấy thì nên đọc kỹ lại bản dự thảo cẩn thận và đặt câu hỏi cho sáng tỏ những điều gì không rõ ràng. Một bản hôn ước có giá trị hợp pháp và chấp hành được nếu mọi điều khoản phía người kém giầu lưu ý tới đều được trình bày rõ ràng và có thương lượng qua lại.
Để chứng tỏ cả đôi bên đều thực lòng hiểu rõ những gì đã ký kết, nhiều luật sư còn muốn thêm vào vài bước nữa để làm sáng tỏ tầm hiểu biết của cả hai bên về bản hôn ước. Thí dụ như ngoài việc ký vào hôn ước, cả hai bên còn phải ký tắt vào những trang có chứa các điều khoản chính yếu, thí dụ như điều khoản đồng ý về việc tiết lộ cho nhau biết về tài sản, ý định phân chia tài sản và trợ cấp.
Cả hai bên – nhất là phía người kém giầu – có thể được yêu cầu viết ra một bản đồng ý bằng chính lời nói của mình, phản ảnh hiểu biết và thuận tình với bản hôn ước. Hoặc một cách khác, có thể ký kết bằng cách thâu băng trong đó hai bên phát biểu bằng lời nói về hiểu biết và đồng ý với các khoản trong bản hôn ước.
Mười lý do chính yếu một hôn ước bất hợp lệ:
1-Hôn ước không văn bản – Hôn ước phải viết ra thành văn thì luật pháp mới bắt buộc thi hành được.
2-Không chấp hành đúng đắn – Cả hai bên đều phải ký hôn ước trước ngày làm đám cưới thì mới được kể hợp lệ.
3-Người ký bị làm áp lực – Một bản hôn ước coi như bất hợp pháp nếu một trong hai người phối ngẫu bị áp lực do chính người kia hoặc gia đình hay luật sư của người ấy bắt ép phải ký.
4-Không đọc trước khi ký – Nếu người vợ hoặc chồng sắp cưới bị đặt ngồi trước một chồng giấy tờ trong đó có tờ hôn ước và bị hối thúc phải ký ngay cho nhanh thì bản hôn ước đó trở thành bất hợp lệ và không buộc thi hành được.
5-Không có thì giờ suy nghĩ – Vợ chồng sắp cưới trước khi ký kết hôn ước phải có đầy đủ thời giờ để đọc và nghiền ngẫm suy đi tính lại trước khi thực sự đặt bút ký kết. Nếu chú rể đem bản hôn ước và bút đến cho cô dâu ký ngay trước khi làm lễ cưới thì hôn ước đó cũng kể như bất hợp pháp.
6-Điều khoản bất hợp lệ – Mặc dù bản hôn ước có thể bao che hầu hết mọi vấn đề tiền bạc trong quan hệ của hai người sắp chung sống, nhưng trong mọi trường hợp đều không được sửa đổi gì liên quan đến trách nhiệm cấp dưỡng con thơ mà một trong hai người phải gánh nếu xảy ra trường hợp ly dị. Mọi điều khoản khác trong hôn ước có tính cách vi phạm luật pháp thì cũng kể vô hiệu hóa. Tuy nhiên khi phân xử thì tòa án có thể chỉ xóa bỏ đi những điều khoản vi luật và tiếp tục buộc thi hành những điều khoản hợp lệ khác trong hôn ước.
7-Tin tức sai lạc Hôn ước chỉ hợp lệ sau khi lập với đầy đủ tin tức của hai bên liên hệ thí dụ như về lợi tức, tài sản, và nợ nần. Nếu một trong hai người vị hôn phối cho người kia những tin tức sai lạc không đúng sự thật thì bản hôn ước đó kể như bất hợp lệ.
8-Tin tức không đầy đủ – Không cung cấp tin tức thích đáng thì cũng kể là xấu giống như cho tin tức sai lạc khiến bản hôn ước không bắt buộc chấp hành được.
9-Không có luật sư độc lập – Vì lý do quyền lợi vợ chồng sau này thường có nguy cơ tranh chấp khi ly dị, do đó một số tiểu bang bắt buộc trước khi cưới cả hai bên phải có luật sư riêng cho mỗi người vào lúc lập bản hôn ước, nếu không thì hôn ước sẽ không có hiệu lực và không chấp hành được.
10-Điều khoản không hợp lý và có tính cách quá đáng – Dĩ nhiên một trong hai vợ chồng sắp cưới có quyền ký những điều khoản dại dột quá đáng có tính cách “quân tử Tàu.” Lấy thí dụ như khước từ quyền thừa kế đáng lẽ được hưởng khi người kia qua đời dù rằng không được vợ hay chồng ghi tên trong di chúc. Hoặc giả từ chối quyền hưởng trợ cấp khi ly dị cho dù người kia kiếm được mười lần lợi tức hơn mình đi nữa. Hoặc khi ly dị bằng lòng cho người kia lấy hết mọi thứ còn mình thì ôm đồm trả mọi bill nợ không cần biết có đủ sống hay không. Tuy nhiên nếu bản hôn ước nào có chứa điều khoản cực kỳ bất công như trên khiến cho một bên phải lâm vào cảnh hoạn nạn túng bấn trong khi phía bên kia quá giầu “nứt đố đổ vách” thì tòa án sẽ khước từ thi hành và tuyên phán hôn ước vô hiệu hóa. Điều này rất giản dị cũng tương tự luật khế ước đối với các hợp đồng không hợp lý đều bị coi như bất hợp pháp. Dĩ nhiên hôn ước cũng không thoát ra khỏi thông lệ đó.
Số tiền trợ cấp định là bao nhiêu?
Luật mọi tiểu bang không đặt ra trong hôn ước mức tiền trợ cấp rõ ràng là bao nhiêu. Nếu sau này khi ly dị mà cả hai bên đều có khả năng tự lực cánh sinh căn cứ theo tài sản, lợi tức và tài nghề thì tòa án có thể tán thành điều khoản miễn trợ cấp cho người hôn phối kém giầu hơn. Ngược lại, nếu người hôn phối ấy không có khả năng tự mưu sinh và trong hôn ước không xác định cho chia tài sản hoặc cho trợ cấp thì phần lớn tòa án tiểu bang nhẩy vào can thiệp và ra phán quyết bắt bên kia phải trợ cấp hoặc phân chia tài sản thích đáng cho người kém giầu hơn. Số tiền trợ cấp này thay đổi tùy theo từng tiểu bang. Tại vài nơi số tiền trợ cấp chỉ cần đủ mức sinh sống tối thiểu (subsistence level) – có nghĩa là vừa đủ sống để cho người hôn phối kém giầu không phải nhờ vả đến trợ cấp xã hội. Nhiều tòa án áp dụng khái niệm bình đẳng cao hơn do đó có thể cho chia nhiều hơn hoặc trợ cấp nhiều hơn chứ không phải chỉ đủ mức mưu sinh.
Có nhiều tòa dùng tiêu chuẩn xử theo hôn ước bất công – có nghĩa là bản hôn ước có chứa điều khoản quá đáng bất thường. Một số tòa tiểu bang định nghĩa hôn ước bất công là một hợp đồng mà không một người nào có trí óc bình thường mà lại đưa ra điều kiện như vậy cũng như không một người nào có trí óc bình thường, không bị lừa gạt hay áp lực, mà lại chịu chấp nhận điều kiện như vậy. Vì lý do tiêu chuẩn của sự lừa bịp và cưỡng ép đều có tính cách chủ quan cho nên tòa án diễn giải điều khoản trong hôn ước bằng nhiều cách khác nhau, nhưng nếu tòa án nhận thấy bản hôn ước có vẻ bất công thì vẫn có thể cho vô hiệu hóa không cho chấp hành.
Để khuyến khích công bằng và tránh cưỡng ép, nhiều luật gia soạn thảo hôn ước thích cho thêm vào một “điều khoản điều chỉnh” (escalator clause) để có thể tăng số tài sản được chia hoặc số tiền trợ cấp cho người hôn phối kém giầu hơn căn cứ theo thời gian chung sống dài bao lâu hoặc theo mức gia tăng lợi tức hay tài sản của người hôn phối giầu hơn sau khi đã ký kết hôn ước.
Nếu người hôn phối giầu hơn lo ngại rằng tài sản của mình sau này có thể bị giảm quá nhiều, thì người ấy có thể thêm vào một điều khoản che chở cho mình trong trường hợp này. Nếu bản hôn ước có ghi rõ sẽ chu cấp một khoản tiền nhất định cho người kém giầu, thì người hôn phối giầu hơn phải thêm vào một câu rằng trong bất cứ tình huống nào số tài sản phân chia hoặc trợ cấp cho người hôn phối kém giầu không được quá một nửa – hoặc theo phần trăm bao nhiêu – tài sản của người giầu hơn. Một chọn lựa khác, số tài sản phân chia vào thời điểm ly dị hoặc chết cũng đặt theo phần trăm tài sản mà người hôn phối giầu hơn vào chính thời điểm ấy.
Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quý độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quý độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quý vị.





















































































