Luật tài sản

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở địa chỉ: 17151 Newhope Street, Suite 113, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080, website: www.lylylaw.com

Luật Sư LyLy Nguyễn

Tín mục sinh thời là một bản hợp đồng pháp lý giữa người lập ra văn kiện ấy với một cá nhân hoặc một cơ sở để thay mình trong việc điều hành tài sản dưới danh nghĩa tín viên (trustee). (Hình minh họa: rawpixel/Pixabay)

Tuần trước chúng tôi đã trình bày một thủ tục thông dụng trong việc lập dự định về tài sản (estate planning) theo luật hiện hành của tiểu bang California là lập di chúc (will). Trong bài hôm nay chúng tôi đề cập đến một thủ tục khác quan trọng không kém là lập tín mục sinh thời (living trust) gọi tắt là tín mục, rồi sau đó trong những bài kế tiếp chúng tôi sẽ phân tích những điểm tương đồng và khác biệt của cả hai thủ tục này.

Tín mục sinh thời là một bản hợp đồng pháp lý giữa người lập ra văn kiện ấy với một cá nhân hoặc một cơ sở để thay mình trong việc điều hành tài sản dưới danh nghĩa tín viên (trustee). Thông thường chính người chủ tài sản sẽ là tín viên đầu tiên, sau đó phải chỉ định tín viên khác để quản trị tài sản thay thế mình mà tín viên mới được ủy nhiệm này có thể là một cá nhân, một ngân hàng, hay một công ty tín dụng (trust company). Nhiệm kỳ của tín viên có thể thay đổi được cho đến khi người chủ tài sản qua đời. Tín mục cũng có cùng một mục đích như di chúc là để lại tài sản của một người cho thừa kế sau khi mệnh một, nhưng có điểm khác biệt quan trọng là không bị tòa án chi phối, do đó loại bỏ được thủ tục kiểm sát/thanh toán tài sản (probate) không bị tòa án dính dáng vào việc phân chia tài sản của người ấy.

Trong hợp đồng tín mục gồm có những điều khoản chính yếu sau đây: (1) Chỉ định tín viên và giao quyền hợp pháp để tín viên được phép quản lý tài sản giao phó. (2) Ấn định các điều khoản trong tín mục cho một hay nhiều cá nhân hoặc cơ sở thừa kế (beneficiaries) được hưởng tất cả lợi tức và vốn liếng khi người chủ tài sản qua đời. (3) Hướng dẫn thể thức quản trị tín mục và ấn định thẩm quyền điều hành cùng xác định việc phân chia tài sản một cách kín đáo và đáng tín cậy. Nói cách khác tín viên được hoàn toàn tín nhiệm để nắm giữ tài sản với tiêu chuẩn cao hơn chính người chủ tài sản nếu tự làm lấy. Tuy nhiên cần phải nói rõ là tín viên không có quyền sử dụng tài sản hoặc thủ lợi trên lợi tức của người ủy nhiệm nếu không có phép của người ấy viết rõ bằng giấy tờ. Tóm lại tín viên chỉ được chỉ định giữ dùm tài sản để lại cho người thừa kế mà thôi.

Như vậy tín mục sinh thời sẽ giúp một người ủy nhiệm quyền quản trị tài sản riêng nếu chính mình không muốn tự quản lý lấy hay không còn khả năng quản lý lúc còn sống. Khi người chủ tài sản bị bất lực mất khả năng điều khiển thì tín viên có thể được chỉ định thay thế đảm nhiệm việc điều hành tài sản cho phúc lợi người ấy mà không bị tòa án giám sát hay can thiệp vào. Khi người chủ tín mục qua đời, tín viên sẽ thi hành việc thu thập toàn bộ tài sản, thanh toán các khoản nợ nần hợp pháp, khai báo và đóng thuế má rồi phân chia phần còn lại cho các thừa kế theo ý nguyện của người quá cố đã được chỉ định rõ trong văn bản tín mục.

Nói như vậy không có nghĩa là ai cũng cần phải lập tín mục sinh thời. Tín mục rất quan trọng đối với những người có tình trạng sức khỏe yếu kém hay đang bị nan y có thể bị bất lực hoặc chết bất cứ lúc nào. Ngoài ra những người có tài sản lớn, nhất là những người có nhiều của cải, nhà đất nên lập tín mục càng sớm càng tốt. Ngược lại một người trẻ tuổi và mạnh khỏe với vốn liếng không đáng kể có lẽ không cần lập tín mục sinh thời vội. Nói một cách rõ ràng hơn, lập tín mục sớm chừng nào thì tài sản của quý vị sẽ được bảo vệ chắc chắn hơn trong tương lai trước những bất trắc do tai nạn bất ngờ hoặc bệnh tật nan y không dự đoán hay phòng ngừa được.

Khi người chủ qua đời thì tài sản giữ trong tín mục sẽ được tín viên điều hành và phân phối cho thừa kế theo chỉ thị đã lập trong văn bản. Tín viên cũng trách nhiệm về việc chuyển các quyền lợi để lại cho các thừa kế mà không bị các tòa án tiểu bang chi phối và kiểm sát trực tiếp, do đó tính chất và nguồn gốc các tài sản người chết để lại sẽ không bị ghi vào hồ sơ công khố (public record) mà người ngoài ai cũng có thể biết được. Cũng nên nhấn mạnh về đặc điểm là tài sản lập theo tín mục sẽ không phải qua thủ tục thanh toán/kiểm sát của tòa án như theo di chúc. Theo luật của tiểu bang California, thủ tục này do tòa án thi hành và giám sát trong mục đích chuyển tất cả tài sản của người chết chỉ định cho thừa kế trong di chúc, do đó phân chia tài sản sẽ bị mất nhiều thời gian và rất tốn phí vì phải qua nhiều thủ tục rắc rối hơn là theo tín mục sinh thời.

Chúng tôi đã trình bày hai thủ tục chính trong việc lập dự định về tài sản (estate planning) theo luật hiện hành của tiểu bang California là lập di chúc (will). và lập tín mục sinh thời (living trust) gọi tắt là “tín mục.” Nếu một người qua đời mà không lập cả di chúc lẫn tín mục thì được xếp vào loại “chết không trối trăn” (intestate) và tiểu bang có điều luật để quản trị và phân phối tài sản của những người chết trong trường hợp này gọi là “intestacy laws.” Chúng tôi xin kể sau đây một thí dụ:

Ông X., 45 tuổi, là chủ nhân một garage sửa xe hơi tại Orange County. Ông bình thường trông rất khỏe mạnh, không bị đau ốm vặt, chỉ lâu lâu vài ngày thì thấy tim đập lúc nhanh lúc chậm bất thường. Ông có đi khám bệnh vài lần nhưng bác sĩ không thấy triệu chứng nặng nên cho uống mấy thứ thuốc trợ tim là ông khỏe lại ngay. Hàng ngày ông đích thân sửa chữa xe cho khách cùng với hai người thợ giúp việc trả lương khoán. Sau vài năm cần cù làm ăn lấy công làm lời, ông dành dụm được một tài sản kha khá, ngoài tiệm garage sửa xe còn mua được một căn nhà giá chín trăm ngàn mỹ kim. Căn nhà này ông đã trả được một phần ba và còn nợ mortgage hai trăm ngàn. Ngoài ra ông còn để dành được bảy mươi lăm ngàn đồng trong trương mục tiết kiệm ở ngân hàng Bank of America cùng với một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có trị giá (face value) hai trăm ngàn. Ông đã có hai đời vợ trước, bà vợ đầu tiên qua đời hơn mười  năm có ba người con đã thành niên không ở với ông. Bà vợ thứ hai ly dị vài năm trước đây có một cậu con trai sáu tuổi ở với mẹ. Ông X. mới kết hôn với bà vợ thứ ba được gần ba năm nhưng chưa có con với bà này. Cuộc sống của ông rất yên lành, vì vậy ông chẳng bao giờ nghĩ đến những bất trắc mà lập di chúc. Ngay cả bảo hiểm nhân thọ ông cũng không ghi ai là người thừa hưởng vì định bụng khi nào đau yếu sẽ tính sau. Cuộc đời nào có ai ngờ, một hôm khi đang hì hục cùng một người thợ khiêng một khối máy vừa tháo ra để sửa, bỗng dưng ông thấy tối tăm mặt mũi rồi ngất xỉu vì bị lên cơn tim cấp tính (heart attack). Ông được đưa ngay vào bệnh viện cấp cứu nhưng đã trút hơi thở cuối cùng trên xe cứu thương mà không trối trăn được lời nào. Sau khi ma chay cho chồng xong xuôi, bà X. dĩ nhiên thay chồng cai quản xưởng sửa xe nhưng bà không biết gì về máy móc, tất cả đều giao cho thợ nên công việc làm ăn càng ngày càng bết bát. Vì số thu không đủ chi phí nên bà bắt buộc phải cho thợ nghỉ việc, đóng cửa tiệm để sang lại cho người khác. Bà đem sổ tiết kiệm của ông X. đến ngân hàng xin rút số tiền chồng bà đã gửi nhưng ngân hàng từ chối vì ông quên không để tên bà thừa hưởng khi chết. Khi đòi số tiền bảo hiểm nhân thọ bà bị từ chối luôn vì ông chồng cũng không để tên người thừa kế. Bà muốn bán căn nhà đang ở, căn nhà này hai vợ chồng đứng tên chung lúc mua, nhưng lúc rao bán thì tòa án không cho phép mà bắt phải qua thủ tục kiểm sát/thanh toán (probate). Mặc dầu xưởng sửa xe không còn đáng giá vì không hoạt động, nhưng tòa án cũng không cho phép tự sang nhượng. Tòa bắt phải mướn chuyên viên lượng giá (appraisal) cả xưởng sửa xe cùng với căn nhà đang ở. Trong lúc đó ba người con của đời vợ đầu tiên cùng bà vợ thứ nhì nhân danh cậu con cùng nộp đơn khiếu nại xin chia gia tài. Cuộc tranh chấp rất kịch liệt không bên nào nhường nhau cả vì không đồng ý trên giá trị thực sự của tài sản ông X. để lại. Dĩ nhiên tranh chấp thưa kiện ở tòa phải tốn phí rất nhiều cả tiền tòa lẫn sở phí cho luật sư đôi bên cùng với tiền chi cho việc lượng giá lên đến cả vài ngàn đồng. Vụ kiện kéo dài hơn hai năm, cuối cùng tòa xử như sau: (1) Xường sửa xe được bán đấu giá, Sau khi trừ thuế bà X. được 1/3 số tiền đấu được, 2/3 còn lại chia đều cho 4 người con. Có điều không may là garage này không có ai trả giá cao nên đã đấu với giá rẻ mạt không bằng 1/3 giá trị ước lượng. (2) Căn nhà đứng tên chung nên phần tài sản của ông chồng chỉ được kể một nửa. Sau khi trừ tiền mortgage còn nợ và thuế, ngoài phần một nửa số tiền của bà trong căn nhà đó bà được thêm 1/3 trong nửa phần kia, còn 2/3 nửa đó cho 4 đứa con chia nhau. (3) Số tiền bảo hiểm nhân thọ và trương mục tiết kiệm sau khi đóng thuế rồi cũng chia 1/3 cho bà X. và 2/3 cho bốn người con. Dĩ nhiên trước khi chia tòa probate trừ một số tiền khổng lồ cho án phí, chi phí luợng giá và trả luật sư đôi bên, cuối cùng bà X. và các con riêng của ông chẳng hưởng được bao nhiêu và việc chia chác này chưa chắc đã chia theo đúng ý muốn của người chết. Giá ông X. cẩn thận hơn một chút mà lập di chúc hay tín mục thì khi qua đời việc để lại tài sản sẽ khỏi phải đem ra tòa, đỡ tốn phí và mất thời gian, gia tài để lại sẽ đúng nguyện vọng, những người thân yêu của ông sẽ được nhiều hơn, mau hơn cùng tránh được chuyện tranh chấp tốn kém gậy ra hiềm khích. Trong bài kế tiếp chúng tôi sẽ phân tích cặn kẽ và so sánh những điều lợi và bất lợi cho cả di chúc, tín mục và chết không trối trăn.

Sau đây là tóm lược những điểm chính về luật “intestacy laws”: (1) Người hôn phối – với điều kiện chưa hay không ly dị – sẽ được hưởng trọn gia sản vớt vát được của nạn nhân sau khi trừ thuế má, án phí và các phí tổn khác nếu nạn nhân không có con hay con riêng. (2) Được hưởng một nửa nếu nạn nhân chỉ có một con hay con riêng. Nửa kia về phần người con hay con riêng. (3) Được hưởng 1/3 nếu nạn nhân có nhiều con hay con riêng. Phần còn lại về phần các con hay con riêng chia đều nhau miễn là cùng một thế hệ, hay là cháu nếu là con của người con nào bị chết. (4) Được hưởng một nửa nếu nạn nhân không có con hay con riêng nhưng còn cha mẹ hay anh em. Nửa kia về phần cha mẹ, nếu cha mẹ không còn sống thì chia đều cho anh chị em miễn là cùng một thế hệ. (5) Nếu không còn người hôn phối mà chỉ còn con cái hay cha mẹ thì tất cả về phần các con chia đều nhau miễn là cùng một thế hệ. (6) Nếu không còn người hôn phối và cũng không có con mà chỉ còn cha mẹ thôi thì tất cả về phần cha mẹ của nạn nhân. Nếu cha mẹ cũng không còn thì chia đều cho anh chị em miễn là cùng một thế hệ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT