Trân Văn
Tuần này, Tòa Án TP.HCM sẽ đưa bà Lê Thúy Hằng (55 tuổi, cựu tổng giám đốc SJC) và 15 thuộc cấp ra xét xử. Họ bị cáo buộc “tham ô tài sản” và “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” gây thiệt hại cho nhà nước khoảng 180 tỷ đồng ($6.81 triệu).

Theo cáo trạng của Viện Kiểm Sát Tối Cao thì trong ba năm, từ Tháng Mười, 2021 đến Tháng Chín, 2024, bà Hằng và 15 thuộc cấp đã lợi dụng chức trách để nâng định mức về hao hụt trong gia công vàng khối thành vàng miếng cho Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN). Bởi chênh lệch giữa hao hụt thực tế thấp hơn hao hụt tính theo định mức nên hoạt động gia công vàng khối thành vàng miếng đã tạo ra 95,852 lượng vàng và họ đã chia chác với nhau số vàng dư ra.
Trong quá trình gia công vàng theo đơn đặt hàng của NHNN, bà Hằng còn cùng thuộc cấp mua vàng trôi nổi ở bên ngoài với giá thấp để trộn với những miếng vàng bị móp méo cần gia công lại và đã tạo ra khoảng 18,000 lượng vàng (cả miếng lẫn nhẫn) không biết chất lượng thật sự ra sao bởi phía công tố chỉ xác định nhà nước thiệt hại khoảng 74 tỷ đồng ($2.8 triệu).
Sai phạm của bà Hằng và thuộc cấp không chỉ có thế! Trong giai đoạn đã kể, họ còn lợi dụng chức trách liên quan đến việc định giá vàng, mua vào/bán ra nhằm giữ cho hoạt động của thị trường vàng ổn định để thu lợi bất chính khiến thị trường vàng trở thành hỗn loạn về giá cả.
***
Sau Tháng Tư, 1975, do chính quyền Việt Nam phạm đủ loại sai lầm trong quản trị, điều hành quốc gia nên lạm phát càng ngày càng cao, từ đầu thập niên 1980, tỷ lệ lạm phát tính bằng trăm phần trăm (năm 1986, tỷ lệ lạm phát là 774.7%). Để bảo tồn giá trị tài sản, dân chúng chỉ có một cách là tích trữ vàng, bất chấp chính quyền cấm mua bán vàng, thậm chí còn khám xét, tịch thu vàng mà dân tích trữ! Tuy nhiên chính quyền Việt Nam vẫn không thể dùng vàng như một loại công cụ để kiểm soát lạm phát và ngoại tệ.
Đến khi tình thế buộc phải từ bỏ “kế hoạch hóa” nền kinh tế, chính quyền Việt Nam mà đại diện là NHNN bắt đầu cho phép mua bán vàng nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ việc nhập cảng và sản xuất vàng để ổn định tiền tệ, tăng quỹ dự trữ ngoại hối.
Đầu thập niên 2000, nhu cầu tăng trưởng đã thúc ép NHNN cho các ngân hàng thương mại (NHTM) nhận giữ vàng như tài sản tiết kiệm và cho vay vàng, một số doanh nghiệp được phép nhập cảng vàng, thuế nhập cảng vàng được giảm một nửa.
Đầu thập niên 2010, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá vàng tăng vọt và cùng với nhiều yếu tố khác (giá cả trên thị trường thế giới tăng, đầu tư trong nước dàn trải,…) đã tạo ra lạm phát phi mã ở Việt Nam. NHNN quyết định dẹp bỏ các loại giao dịch dựa trên vàng, giảm sự phụ thuộc của tiền tệ vào vàng.
Năm 2012, NHNN tuyên bố độc quyền nhập cảng và sản xuất vàng miếng. Vàng miếng của công ty Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC) được chọn làm vàng miếng theo tiêu chuẩn quốc gia. Thị trường vàng vốn đã hỗn loạn càng thêm hỗn loạn…
***
Cần lưu ý, trước khi chính quyền Việt Nam khởi tố vụ án xảy ra ở SJC (Tháng Mười Hai, 2024), trong mười năm vừa qua, nhiều chuyên gia, viên chức, doanh nhân đã liên tục cảnh báo về hậu quả của việc để SJC độc quyền sản xuất, cung cấp vàng miếng: Tạo ra chêch lệch lớn giữa giá vàng trên thế giới và giá vàng trong nước, làm cung-cầu méo mó, kích thích đầu cơ và buôn lậu vàng, gia tăng lạm phát, kinh tế bất ổn, dân chúng bị thiệt thòi, chưa kể giám sát lỏng lẻo và thiếu minh bạch sẽ dẫn tới tham nhũng,… song những ý kiến đó chẳng khác gì những “tiếng kêu trong sa mạc!”
Tháng Mười Một, 2022, trả lời chất vấn của Quốc Hội Việt Nam, bà Nguyễn Thị Hồng, thống đốc NHNN thừa nhận, đại ý: Đúng là để SJC độc quyền sản xuất, cung cấp vàng miếng đã làm giá vàng nội địa cao hơn từ 15% đến 20% so với giá vàng thế giới, thúc đẩy người dân tích trữ vàng thay tiền (vàng hóa)… Thế nhưng chính quyền Việt Nam tiếp tục phớt lờ những đề nghị như nới lỏng độc quyền, cho phép một số doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực quý kim được sản xuất vàng miếng theo tiêu chuẩn quốc gia như SJC, lập sàn giao dịch vàng để không phụ thuộc vào SJC…
Cứ ngẫm sẽ thấy, vụ án SJC có tính tất nhiên, diễn biến của hoạt động phạm pháp và tác hại đã được dự báo nhưng chính quyền Việt Nam không muốn ngăn chặn và cũng không có ai phải chịu trách nhiệm. Thiệt hại do bà Lê Thúy Hằng và 15 thuộc cấp gây ra đâu chỉ có 108 tỷ đồng!
Ông Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia tài chính, ước đoán, thiệt hại gián tiếp từ vụ án SJC (giá vàng nội địa cao hơn giá vàng thế giới từ 10% đến 15%, tác hại đối với hoạt động xuất/nhập cảng và dự trữ ngoại hối quốc gia) nằm trong khoảng từ 500 tỷ đến 1,000 tỷ đồng.
Hiệp Hội Kinh Doanh Vàng Việt Nam thì cho rằng, thiệt hại lớn nhất là việc suy giảm từ 20% đến 30% vốn đầu tư vào vàng, nguồn vốn này được chuyển vào những kênh đầu tư nhiều rủi ro hơn như chứng khoán sẽ khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại.
Phía chính quyền (thủ tướng và NHNN) thì ước tính, nếu không khắc phục kịp, tác động của SJC đến vĩ mô (lạm phát và tỷ giá) nằm trong khoảng 0.5% tới 1% GDP (dao động trong khoảng 20,000 đến 40,000 tỷ) thành ra mãi đến tháng trước, chính sách liên quan đến thị trường vàng mới được điều chỉnh giống như các đề nghị cách nay chục năm!
***
Từ đầu thập niên 2010, giới hữu trách tại Việt Nam bắt đầu đề cập đến “vàng trong dân.” “Vàng trong dân” không chỉ nằm trên môi miệng viên chức mà còn được đề cập trong hàng loạt văn bản. Chẳng hạn như “Đề án huy động vàng trong dân phục vụ phát triển kinh tế-xã hội” của NHNN (2012), “Giải pháp hạn chế tình trạng vàng hóa chuyển hóa nguồn vàng thành tiền phục vụ phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 của NHNN” (2017), “Báo cáo gửi Quốc Hội Tháng Năm, 2018 của NHNN,” “Nghị Định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, Báo cáo về sửa đổi chính sách vàng của NHNN (2025),…”
Lượng vàng khoảng 500 tấn nằm trong dân đã được chính quyền Việt Nam xác định là nguồn vốn quan trọng đối với kinh tế vĩ mô và không ngần ngại bày tỏ tham vọng kích hoạt, chuyển số “vàng chết” mà dân đang cất trữ ấy thành vốn đầu tư!
500 tấn vàng rõ ràng không nhỏ. Nếu được đem ra sử dụng đúng cách, khối vàng khổng lồ ấy có thể hỗ trợ mở rộng sản xuất, phát triển dịch vụ, tạo thêm việc làm, tăng nguồn thu cho ngân khố, cải thiện chính sách an sinh xã hội, củng cố và phát triển nội lực quốc gia. Thế nhưng cứ nhìn vào chính sách và cung cách quản trị – điều hành thị trường vàng trong vài thập niên gần đây, rồi đối chiếu những khuyến nghị với các tình tiết trong vụ án SJC và hiện trạng kinh tế-xã hội, tự nhiên sẽ thấy suy nghĩ, cách thức thu hút vàng trong dân dường như không nhằm đạt “quốc thái, dân an.”
Đối tượng đầu tiên phải gánh chịu thiệt hại khi giá vàng nhảy múa như đã biết còn là ai ngoài dân? Đối tượng cuối cùng nhận lãnh tất cả hậu quả từ chính sách và cung cách quản trị – điều hành thị trường vàng hết sức khó hiểu ấy có thể là ai khác hơn dân? [kn]

















































































