Thấy gì từ cái lệnh bỏ ‘không quản được thì cấm’

Chuyện Vỉa Hè

Đặng Đình Mạnh

Trong một thông báo mới đây của đài truyền thông BBC, Anh Quốc, về một nữ ký giả của họ về thăm Việt Nam, đã bị an ninh giữ lại thẩm vấn, thu hộ chiếu và cấm xuất cảnh trở lại Thái Lan để làm việc.

Trịnh Bá Phương, bị kết án 10 năm tù hồi năm 2021. Đến ngày 27 Tháng Chín, 2025, ông lại bị áp đặt thêm 11 năm tù nữa cho một cái tội ông không hề làm. (Hình: HRW)

Điều đáng nói là thông báo này được đưa ra trùng vào chuyến công du của Tô Lâm, người đứng đầu chế độ Cộng Sản Việt Nam đến Anh Quốc ký kết việc nâng cấp quan hệ ngoại giao.

Sự kiện bẽ bàng này khiến công chúng nhớ lại về lời tuyên bố của Tô Lâm từ tròn một năm trước. Khi đó, cũng vào Tháng Mười, 2024, Tô Lâm đọc diễn văn trước Quốc Hội Việt Nam và tuyên bố rằng “phải từ bỏ tư duy không quản được thì cấm.”

Khi ấy, nhiều người đã ngây thơ kỳ vọng vào tuyên bố như một tín hiệu thay đổi mang tính cách nền tảng. Thế cho nên, dễ hiểu khi truyền thông chế độ đã ca ngợi tuyên bố như “tinh thần cải cách tư duy quản lý” sau gần tám thập kỷ chế độ Cộng Sản duy trì tư duy “không quản được thì cấm.”

Đến nay, một năm đã trôi qua, và điều duy nhất công chúng nhận thấy không phải là sự “từ bỏ,” mà là sự củng cố mạnh mẽ hơn của bộ máy công an trị, nơi xuất phát và thực thi tư duy “không quản được thì cấm,” qua sự kiện sách nhiễu, ngăn cản nữ ký giả đài BBC trở về nơi làm việc là một minh chứng sống động.

Các quyền tự do căn bản của công dân, từ tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo, lập hội, biểu tình… vẫn tiếp tục bị cấm đoán. Các nhà hoạt động xã hội, nhà báo độc lập, và người bày tỏ chính kiến ôn hòa vẫn tiếp tục bị bắt giữ, truy tố, và kết án nặng nề.

Trong thực tế, chưa bao giờ các điều luật phản dân chủ, phản động như Điều 117 “tuyên truyền chống nhà nước” và Điều 331 “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” được sử dụng thường xuyên và tùy tiện như trong giai đoạn sau lời tuyên bố ấy của Tô Lâm.

Cho thấy, tuyên bố từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” chỉ là một chiêu bài chính trị tạm thời, được tung ra để làm dịu dư luận, che đậy cho một giai đoạn đàn áp mới được tổ chức tinh vi hơn, có kế hoạch hơn, và được ngụy trang bằng thứ ngôn ngữ cải cách như những lời có cánh, nhưng ẩm giấu sự xảo trá bên trong.

“Không quản được thì cấm,” bản chất vận hành của nhà nước độc tài

Tư duy “không quản được thì cấm” không phải là sai sót quản lý hay yếu kém kỹ thuật của bộ máy hành chính. Đó là triết lý vận hành của một chế độ độc tài, nơi kiểm soát xã hội được xem là mục tiêu tối thượng, và tự do con người bị coi là mối đe dọa trực tiếp tới sự tồn vong của quyền lực đảng trị.

Trong các nhà nước dân chủ, quyền lực được giới hạn bởi hiến pháp, pháp luật, và sự giám sát của xã hội dân sự. Ngược lại, trong hệ thống toàn trị như Việt Nam, quyền lực nhà nước bị một đảng duy nhất tiếm quyền, khiến pháp luật trở thành công cụ phục vụ ý chí chính trị, chứ không phải giới hạn nó.

Vì vậy, thay vì “quản” xã hội bằng luật pháp minh bạch và đối thoại, nhà cầm quyền chọn cách “cấm” để loại bỏ mọi mối nguy thách thức đối với sự độc quyền quyền lực.

Cấm báo chí tư nhân, cấm công đoàn độc lập, cấm biểu tình, cấm đảng đối lập, cấm tổ chức dân sự, cấm thảo luận chính trị ngoài phạm vi cho phép… Tất cả tạo thành một cơ chế cấm đoán toàn diện, được hợp pháp hóa bằng các điều khoản hình sự mơ hồ, đàn áp nhân dân bằng danh nghĩa “bảo vệ an ninh quốc gia.”

Điều đáng nói hơn, chính Bộ Công An, nơi Tô Lâm từng đứng đầu suốt tám năm dài (2016-2024), lại là “tác giả” trực tiếp của hầu hết các cơ chế cấm đoán này. Từ việc trì hoãn Luật Lập Hội và Luật Biểu Tình suốt hơn 12 năm qua, đến việc khởi tố hàng loạt vụ án về “tuyên truyền chống nhà nước,” hoặc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ,” tất cả đều cho thấy, nếu có ai phải chịu trách nhiệm đầu tiên cho tư duy “không quản được thì cấm,” thì đó phải chính là Tô Lâm và bộ máy ông ta tạo dựng.

Một năm sau tuyên bố, đàn áp không giảm mà tăng

Thống kê không chính thức từ các tổ chức nhân quyền quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, hay Project 88 cho thấy: Năm 2024 có khoảng 180-200 tù nhân lương tâm bị giam giữ tại Việt Nam. Đến giữa năm 2025, con số này đã tăng lên hơn 230 người, trong đó ít nhất 30 người bị bắt chỉ vì đăng tải bài viết trên mạng xã hội.

Nhiều người bị xét xử với mức án nặng hơn hẳn so với các năm trước, trung bình từ năm đến chín năm tù chỉ vì “viết bài,” “chia sẻ liên kết,” hay “kêu gọi cải cách thể chế.”

Song song đó, Nghị Định 126/2024 được ban hành, vốn được quảng bá là để “bảo đảm quyền lập hội,” thì lại cố tình tạo ra hàng loạt rào cản pháp lý phi lý hầu hạn chế mọi ý định thành lập hội, hoặc tổ chức xã hội dân sự các loại. Nói cách khác, đây là nghị định cấm lập hội bằng danh nghĩa cho phép.

Về lĩnh vực báo chí, sau khi Bộ Công An hoàn tất việc kiểm soát mạng xã hội và yêu cầu các nền tảng nước ngoài tuân thủ “định danh tài khoản,” hàng trăm trang Facebook, X (Twitter) của các nhà báo độc lập hoặc blogger phản biện đã bị khóa hoặc chặn truy cập trong nước.

Ngay cả các phát ngôn mang nội dung tôn giáo, thiện nguyện, môi sinh, môi trường, hoặc xã hội dân sự cũng bị chế độ dán nhãn “diễn biến hòa bình,” “xâm phạm an ninh quốc gia.” Do đó, tư duy “không quản được thì cấm” không hề bị từ bỏ, mà chỉ thay đổi hình thức, từ cấm công khai sang kiểm soát kín đáo, từ bạo lực trực diện sang bóp nghẹt bằng pháp lý và công nghệ.

Cải cách giả tạo và logic của sự dối trá

Về bản chất, các tuyên bố cải cách của lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam luôn nằm trong khuôn khổ “ngôn ngữ trị” (language of control), một kỹ thuật chính trị được sử dụng để duy trì ảo tưởng rằng đảng Cộng sản có khả năng “tự đổi mới,” “tự chỉnh đốn.”

Trong loại ngôn ngữ đó, người dân luôn được khuyên “tin tưởng,” “đồng hành,” “góp ý xây dựng,” trong khi không có bất kỳ cơ chế dân chủ nào bảo đảm cho sự phản biện thực chất, nhưng lại thừa thải cơ chế độc tài để cấm đoán, trừng phạt phát ngôn bất đồng chính kiến.

Khi Tô Lâm còn làm bộ trưởng Công An, ông thường xuyên tuyên bố rằng “không ai bị bắt vì bày tỏ chính kiến,” rằng “mọi việc đều theo pháp luật.” Nhưng cũng chính dưới thời ông, hàng loạt nhà hoạt động ôn hòa bị bắt giam chỉ vì đăng bài trên mạng, hàng chục nhóm xã hội dân sự bị triệt tiêu.

Đến khi lên ngôi tổng bí thư, ông chuyển giọng điệu từ cứng rắn sang “đạo đức chính trị”: Nói về “văn hóa quyền lực,” “trách nhiệm công vụ,” “từ bỏ tư duy cấm đoán”… Tất cả chỉ là lớp vỏ ngôn từ bên ngoài nhằm mục đích làm mềm hóa đi hình ảnh, trong khi bản chất cai trị sắt máu vẫn không thay đổi.

Vì nếu thực sự muốn “từ bỏ tư duy cấm đoán,” Tô Lâm đã có thể:

Bãi bỏ Điều 331 và 117 – hai điều luật trái ngược với Hiến Pháp và Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR) mà Việt Nam đã ký. Trả tự do cho toàn bộ tù nhân lương tâm, những người bị bắt chỉ vì thực thi quyền hiến định. Ban hành Luật Lập Hội và Biểu Tình – vốn đã được hứa hẹn từ hơn 10 năm trước. Chấm dứt chế độ công an trị, tách công an khỏi chính trị và trao quyền giám sát cho Quốc Hội thật sự.

Tất cả đều nằm trong thẩm quyền và khả năng của ông ấy. Nhưng không. Không điều chính đáng nào kể trên được thực hiện. Bởi lẽ, nếu làm như thế, nền tảng quyền lực tuyệt đối của Đảng sẽ sụp đổ. Vì vậy, sự dối trá là tất yếu, là điều kiện sống còn của một thể chế dựa trên nỗi sợ hãi nhân dân và đàn áp nhân dân.

Tư duy “không quản được thì cấm” – biểu hiện của sự suy tàn quyền lực

Trong lịch sử, bất kỳ chính thể nào duy trì sự cấm đoán cực đoan đều đang bước vào giai đoạn khủng hoảng chính trị, bởi sự sợ hãi của giới cầm quyền. Trong đó, cấm đoán là phản xạ của kẻ không còn tự tin vào tính chính danh của mình.

Nhà nước độc tài Việt Nam hôm nay càng ra sức đàn áp, càng chứng tỏ rằng họ không thể thuyết phục nhân dân bằng niềm tin, mà chỉ có thể thay thế vào đó bằng sự cưỡng bức để tạo ra sự sợ hãi.

Ông Huỳnh Ngọc Tuấn (giữa) bị bắt ở Buôn Hồ ngày 8 Tháng Mười, 2025, vì bị vu cho tội “tuyên truyền” chống chế độ độc tài đảng trị dù chỉ viết bình luận thời sự trên Facebook. Đầu thập niên 1990 ông đã từng bị tù 10 năm cùng một tội danh. (Hình: Tuổi Trẻ)

Thế giới hiện đại không còn chỗ cho kiểu quản lý bằng mệnh lệnh và bạo lực. Ngay cả Trung Quốc, khuôn mẫu mà Việt Nam thường học theo, cũng đã phải nới lỏng kiểm soát xã hội ở một số lĩnh vực như học thuật, khoa học kỹ thuật, y tế, kinh tế… để giảm áp lực xã hội.

Trong khi đó, chế độ Cộng Sản trong nước vẫn tiếp tục đóng cửa về chính trị, tự cô lập mình trong khu vực, làm suy giảm nghiêm trọng uy tín quốc tế và cản trở phát triển bền vững. Khi một lãnh đạo cao nhất phải đứng trước Quốc Hội và nói “hãy từ bỏ tư duy không quản được thì cấm,” điều đó tự nó đã là một lời thú tội: Thừa nhận rằng chế độ này đã và đang tồn tại bằng sự cấm đoán.

Nhưng khi lời thú tội ấy không đi kèm hành động sửa sai, nó trở thành một chứng cứ khác của sự dối trá quyền lực. Tóm lại, sự thật không thể bị cấm đoán mãi được

Một năm sau tuyên bố từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm,” Việt Nam vẫn tiếp tục ở trong một “vòng kim cô” kiểm soát chặt chẽ, đàn áp khốc liệt vốn tồn tại từ trước khi có tuyên bố đó và tiếp tục duy trì cho đến nay. Chúng đã như cốc nước lạnh tạt vào mặt những người đã trót tin cậy, kỳ vọng vào Tô Lâm như một vị “minh quân,” một “cứu tinh” cải cách cho Việt Nam.

Chế độ vẫn hành xử theo bản năng của bộ máy công an trị, bao gồm nghi ngờ, kiểm soát, cấm đoán và trừng phạt. Nhưng điều họ không thể cấm được chính là sự thức tỉnh của xã hội.

Nhất là khi người dân nhận ra rằng những lời “cải cách” chỉ là chiêu bài chính trị, mị dân, lừa phỉnh họ… thì bất cứ hệ thống nào, cho dù là sắt máu, bọc thép, cũng sẽ mục ruỗng tự thân từ bên trong. Thế nên, chúng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT