Quân Cảnh Thạch Răng sau ngày miền Nam thất thủ

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Sư Đoàn 21 BB được sự tăng viện quân của Trung Đoàn 15/ Sư Đoàn 9 BB cũng từ miền Tây, do Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là chỉ huy trưởng, và một Tiểu Đoàn Nhảy Dù, tất cả các đơn vị này đều có nhiệm vụ giải tỏa và khai thông Quốc Lộ 13. Tuy trách nhiệm gặp nhiều khó khăn, nhưng cho đến ngày 8 Tháng Sáu, 1972, Quốc Lộ 13 được hoàn toàn giải tỏa.

Vợ chồng Thạch Răng tại Westminster. (Hình: Chu Dũng Sĩ/Người Việt)

Kết thúc trận chiến An Lộc năm 1972

Sau 93 ngày đêm tử thủ, chiến trường An Lộc xem như được kết thúc vào ngày 7 Tháng Bảy, 1972, đánh dấu sự toàn thắng của quân, dân, cán, chính VNCH tại An Lộc, Bình Long.
Kết quả trận chiến là bốn Sư Đoàn Công Trường của Cộng Sản Bắc Việt bị quân và dân Bình Long với sự yểm trợ của Không Quân Hoa Kỳ hạ gục, đã gây kiệt quệ từ tinh thần đến khả năng tác chiến nên phải âm thầm rút quân về biên giới Việt- Miên. Có khoảng từ 70 đến 80 phần trăm quân số và các chiến cụ nặng của địch bị tiêu hủy, bao gồm các Chiến Xa T54, PT76, Thiết Giáp Phòng Không di động, Đại Bác 130 ly, các giàn phóng Hỏa Tiến 122 và 107 ly bị phá hủy.

Quân Cảnh Thạch Răng nhớ lại: “Sau chiến thắng An Lộc, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng phái đoàn gồm nhiều tướng lãnh Quân Lực VNCH và phái đoàn của quốc tế. Tổng thống và phái đoàn đáp trực thăng xuống An Lộc để gặp Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng cùng các chiến sĩ của Sư Đoàn 5 BB và nhiều đơn vị khác để tưởng thưởng chiến công cho các chiến sĩ đã anh dũng tử thủ An Lộc. Nhân dịp này tổng thống và phái đoàn cũng đi ủy lạo cho các quân dân tại An Lộc, Bình Long, trong lúc vẫn còn tiếng pháo kích của địch quân nã vào thành phố Bình Long.”

Thạch Răng trong Lễ Quốc Hận 30/4 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster. (Hình: Thạch Răng cung cấp)

Tàn trận chiến, Tổng Thống Thiệu và phái đoàn chứng kiến cảnh hoang tàn của An Lộc bị đổ nát bởi trên 200 ngàn quả pháo đủ loại của cộng quân nã vào, xen lẫn mùi thuốc súng và mùi hôi thối từ xác chết của địch quân, khoảng 8,000 thường dân vô tội và các chiến sĩ của Quân Lực VNCH trong những trận mưa pháo của quân Cộng Sản Bắc Việt nã vào thành phố.

Trận chiến An Lộc biểu dương tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Quân Lực VNCH. Đây là trận chiến vẻ vang, lẫy lừng về trình độ tác chiến phòng thủ, được ghi công vào Quân Sử VNCH sau này, và làm rạng danh người lính VNCH trong công cuộc chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ Miền Nam Việt Nam.

Cảnh Quân Thạch Răng tâm tình: “Theo tôi, lý do để quân Cộng Sản Bắc Việt nhắm vào An Lộc, vì tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Cambodia, và cũng là điểm thuận lợi để địch quân ẩn nấp các nơi đóng quân trên xứ Chùa Pháp này. Ngoài ra, An Lộc còn là tiền đồn quan trọng để phòng thủ của bộ chỉ huy Quân Đội VNCH của Bình Dương. Vì thế, nếu cộng quân chiếm được An Lộc, sau đó sẽ chiếm Bình Dương là địa thế thuận lợi cho quân Bắc Việt tiến vào Sài Gòn.”

“Nhưng thật ra An Lộc chỉ là nơi không lớn, được trưng dụng là căn cứ phòng thủ của Bình Long, quân Bắc Việt muốn chiếm An Lộc với dụng ý là tạo sự kinh hoàng về tinh thần cho dân chúng và sự điều động của Quân Lực VNCH, để họ dễ dàng tiến quân đánh vào thủ đô Sài Gòn. Nhưng khi tiến quân vào An Lộc, họ không ngờ là bị ngăn chặn bởi sức chiến đấu kiên trì của quân, dân VNCH, nên họ bị thất bại tại trận chiến An Lộc vào năm 1972,” Thạch Răng tâm tình thêm.

Vào ngày 7 Tháng Bảy, 1972, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc đã nói: “An Lộc đứng vững suốt ba tháng cam go, nhờ vào tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn thể quân dân anh hùng nơi thị xã nhỏ bé thân yêu của đất nước.”

Thạch Răng cho biết: “Suốt thời gian chúng tôi tại đồn Quân Cảnh Bình Long thì cuộc chiến tại An Lộc cũng gần chấm dứt. Trong thời gian đó, anh em quân cảnh chúng tôi vì phải lo ứng chiến trong tất cả mọi tình huống cũng như phải làm công tác bảo vệ phi trường, các bãi đáp trực thăng tại Bình Long cho những cuộc đổ quân của các chiến sĩ tác chiến Quân Lực VNCH vào trận chiến An Lộc, đồng thời chúng tôi cũng phải yểm trợ những cuộc chuyển quân bằng quân xa trong thành phố Bình Long. Phần nhiều các cuộc chuyển quân này đều có xe quân cảnh đi trước để giữ an ninh trật tự trong thành phố.”

Thạch Răng và di ảnh của cố Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Hòa. (Hình: Thạch Răng cung cấp)

Ông nói thêm: “Tình thế lúc đó, Bình Long lúc nào cũng bị địch nhã pháo, có thể nói chúng tôi không có nhiều thời gian để nấu cơm, mà chỉ ăn toàn gạo sấy và thịt hộp. Đôi lúc cũng không có thời gian nấu nước sôi để bỏ vào gạo sấy, thành thử chúng tôi phải ăn gạo sấy cùng với nước lạnh. Có một hôm, khi tôi vừa bước ra khỏi hầm trú của đồn Quân Cảnh Bình Long để chuẩn bị nấu cơm thì một quả pháo của địch đã rơi vào sát đồn quân cảnh và đã làm sập một góc hầm trú, cũng may là không có anh em nào bị thương cả.”

Quân Cảnh Thạch Răng tâm tình: “Từ sự chiến thắng An Lộc, quân, dân, cán, chính VNCH tại Bình Long rất hân hoan vui mừng, mặc dù tại An Lộc cũng như tại Bình Long đã có rất nhiều nơi bị đổ nát vì bom đạn. Chợ búa và những sinh hoạt của dân chúng tại Bình Long đã được bắt đầu hồi sinh, sau hơn ba tháng chiến trận An Lộc bùng phát. Anh em quân cảnh chúng tôi tại Bình Long cũng được có chút thời gian để nghỉ ngơi dưỡng sức. Nhưng công việc gìn giữ an ninh trật tự tại Bình Long cũng phải thi hành theo quân lệnh của cấp chỉ huy.”

Đi trao đổi tù binh

Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27 Tháng Giêng, 1973. Sau đó, Hạ Sĩ Thạch Răng được thuyên chuyển về giữ an ninh cho phái đoàn Ban Điều Hợp Quân Sự Bốn Bên để đi trao đổi tù binh.

Quân Cảnh Thạch Răng được tham dự những chuyến trao trả tù binh tại Lộc Ninh vào 1973, để giữ an ninh cho phái đoàn Liên Hợp Ủy Ban Quân Sự đưa các tù binh Việt Cộng lên phi cơ C130 từ phi trường Biên Hòa đến phi trường Lộc Ninh. Đồng thời cũng đến nhận tù binh của VNCH từ phi trường Lộc Ninh đưa về trại an dưỡng Suối Máu, Biên Hòa.

Sau đó, ông được theo phái đoàn chuyển tù binh từ phi trường Trảng Lớn, Tây Ninh. Trong những chuyến trao trả tù binh này, các tù binh cộng sản được phi cơ C130 chuyển về từ các trại giam tại Phú Quốc đến phi trường Trảng Lớn. Sau đó mới chuyển họ về địa điểm trao trả tù binh tại căn cứ Thiện Ngôn thuộc Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Vì căn cứ Thiện Ngôn không có bãi đáp của phi cơ C130, nên phải trưng dụng trực thăng vận tải Chinook để đưa tù binh cộng sản và rước tù binh của VNCH.

Thạch Răng (trái) và cựu Cảnh Sát Quốc Gia Lê Sơn. (Hình: Thạch Răng cung cấp)

Sau khi chuyển tất các tù binh cộng sản tại các trai giam Phú Quốc xong. Đầu năm 1974, Quân Cảnh Thạch Răng được thuyên chuyển về đồn Quân Cảnh Phú Cường, Bình Dương, cho đến cuối Tháng Tư, 1975.

Miền Nam bị thất thủ

Ngày 29 Tháng Tư, 1975, cộng sản tấn công vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Dương và nã nhiều tràn pháo kích vào trường Công Binh, Bình Dương. Lúc đó đồn quân cảnh nằm trong Tòa Hành Chánh Bình Dương, cách bộ chỉ huy Tiểu Khu Bình Dương khoảng 4-5 cây số.

Quân Cảnh Thạch Răng nhớ lại: “Sáng sớm 30 Tháng Tư, 1975, chúng tôi được lệnh hướng dẫn đoàn quân xa của Bình Dương về Sài Gòn. Anh em quân cảnh tập trung vào hai xe quân cảnh đi đầu. Khi đến xã Phú Văn gần quận Lái Thiêu thì đoàn quân xa chạm địch. Xe quân cảnh đi đầu có gắn khẩu Đại Liên M60 mới nổ súng trước sự ngăn chặn của Việt Cộng không cho đoàn quân xa này tiến về Sài Gòn. Nhưng duy nhất chỉ có một con đường này để đi đến Sài Gòn mà thôi. Với áp lực của địch quá mạnh, nên chúng tôi và đoàn quân xa bắt buộc phải quay đầu trở lại Bình Dương. Những lính của VNCH thì cũng đi tứ tán nhiều nơi, còn toán quân cảnh chúng tôi cũng trở về đồn Quan Cảnh Bình Dương để chờ lệnh của cấp trên xử lý.”

Trưa 30 Tháng Tư, 1975, tân Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Lúc đó, các quân cảnh trong đồn cũng rời khỏi đồn để tìm cách về với gia đình. Hạ Sĩ Thạch Răng vì chưa có gia đình, mà quê mình ở tại Cần Thơ, nên lúc đó ông không biết phải đi đâu, vì phương tiện giao thông từ Bình Dương về Cần Thơ rất nan giải. Cuối cùng, chỉ còn Thạch Răng và Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Hòa ở lại đồn Quân Cảnh Bình Dương.

Ông Thạch Răng ngậm ngùi kể: “Anh Hòa cầm hai trái lựu đạn M26 đã rút chốt để chuẩn bị tự sát. Tôi rất cảm động khi anh Hòa nói với tôi lần cuối, ‘Em nên rời khỏi đồn mau, còn anh ở lại đây chớ không đi đâu hết.’ Tôi khuyên anh là hãy cùng tôi rời khỏi đồn, vì anh em trong đồn cũng đã đi hết rồi. Nhưng anh Hoa vẫn từ chối lời khuyên của tôi, anh bắt tôi phải rời khỏi đồn ngay.”

“Lúc đó anh Hòa vẫn còn mặc quân phục và trên tay vẫn nắm chặt hai quả lựu đạn đã rút chốt, còn tôi thì thay quần áo dân sự. Khi rời khỏi đồn khoảng năm phút sau, tôi nghe hai tiếng lựu đạn nổ. Tôi rất đau lòng, vì biết ngay là anh Hòa đã tự sát, trong khi gia đình anh cũng đang ở tại Bình Dương. Khi nghe tiếng nổ lớn, một số Việt Cộng đang ở gần đó mang súng tiến vào đồn quân cảnh, nên tôi không thể trở vào đồn, có một số người chạy ra cổng tòa hành chánh, và họ cho biết là có một quân cảnh tự sát. Tôi đau lòng phải ra đi để xác của đồng đội mình ở lại,” Thạch Răng kể thêm.

Thạch Răng (trái) trong Lễ Tưởng Niệm cố TT Nguyễn Văn Thiệu tại Little Saigon. (Hình: Thạch Răng cung cấp)

Tám anh hùng tử sĩ quân cảnh tự sát trong ngày 30 Tháng Tư, 1975, bao gồm: Đại Úy Nguyễn Hòa Đương (Trường Quân Cảnh Vũng Tàu), Trung Úy Trần Văn Kính (Trường Quân Cảnh Vũng Tàu), Trung Sĩ I Nguyễn Lương Hùng (Trường Quân Cảnh Vũng Tàu), Thượng Sĩ Trần Chánh Tạo (tại Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh), Thượng Sĩ Nguyễn Linh Đông (văn phòng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô), Trung Sĩ I Nguyễn Văn Hòa (Đồn Quân Cảnh Phú Cường Bình Dương), Trung Sĩ I Trần Văn Minh (sân cờ Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH), và Hạ Sĩ I Lê Công Hưởng (Ngã Ba Hòm Sài Gòn).

Được định cư tại Hoa Kỳ

Sau đó Thạch Răng trở về Trà Vinh sinh sống. Đến năm 1990, ông lập gia đình và có một con gái. Tháng Tư, 1990, gia đình Thạch Răng vượt biên bằng đường bộ rất nhiều nan giải từ Việt Nam đến Cambodia, rồi đến năm 1991 mới được nhập tại Sikiew, Thái Lan. Đến Tháng Sáu, 1998, vợ chồng Thạch Răng và đứa con gái khoảng 10 tuổi được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận sang định cư tại Long Beach, California.

Hiện giờ gia đình ông Thạch Răng đang cư ngụ tại Garden Grove, California. [dt]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT