Trân Văn/Người Việt
Phần trước đã giới thiệu về “buông xuôi.” Trong khi “buông xuôi” đang làm sụt giảm năng suất lao động của Trung Quốc, tạo ra làn sóng “thất nghiệp tự nguyện” thì cuối năm 2022, phong trào “giấy trắng” (White Paper Revolution) bùng phát. Bất bình trước chính sách phong tỏa cực đoan để hạn chế COVID-19 lây lan (Zero-COVID), sinh viên và thanh niên tại các đô thị lớn ở Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thành Đô… đã đổ ra đường giương cao những tờ giấy trắng – bày tỏ việc bị buộc phải câm nín không được nói những điều họ muốn.

Đợt phản kháng công khai vốn hết sức hiếm hoi tại Trung Quốc đã khiến chính quyền Trung Quốc vội vàng chấm dứt chính sách “Zero-COVID,” đưa sinh hoạt xã hội trở lại bình thường sớm hơn dự kiến.
Từ năm ngoái đến năm nay, giới trẻ Trung Quốc thêm một lần chuyển hướng. Giá nhà cao, chi phí đắt đỏ khiến thanh niên Trung Quốc quyết định từ bỏ lối sống kiểu “Tộc Chuột” (Rats Tribe – chui rúc trong các ổ chuột ở đô thị) và “bỏ phố về quê.” Họ khuyến khích nhau hãy chấp nhận làm đủ thứ việc không tên, thu nhập thấp để có không gian sống thoáng đãng, bình yên hơn.
Tuy “bỏ phố về quê” là một cuộc rút lui vì bất lực nhưng cũng được xem như một kiểu hỗ trợ giãn dân, tạo cơ hội cho những khu vực cần nhân lực phát triển. “Bỏ phố về quê” cũng tạo một loại áp lực buộc chính quyền Trung Quốc tự điều chỉnh, thay đổi cách tiếp cận, chú trọng nhiều hơn đến thế hệ trẻ vì hỗ trợ họ chính là cách duy trì sự ổn định cả về kinh tế lẫn chính trị.
***
Bởi là bản sao của Trung Quốc về thể chế nên sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những vấn nạn kinh tế – xã hội mà chính quyền Trung Quốc phải đối mặt cũng đã hoặc sẽ xuất hiện tại Việt Nam. Trước khi “nằm thẳng” trở thành phong trào, lan rộng tại Trung Quốc, giới trẻ và thường dân Trung Quốc đã tuyệt vọng vì giá nhà thăng thiên, vượt ngoài tầm với của họ.
Giữa thập niên 2000, giới trẻ và thường dân Trung Quốc gọi nhau là “phòng nô” (nô lệ của căn nhà). Để có thể trả trước 30% giá trị một căn nhà ở các đô thị lớn, những cặp vợ chồng trẻ phải vét sạch tiền tiết kiệm của chính mình, của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ (lục cá ví tiền – sáu cái ví). Chuyện chưa ngừng ở đó, 30 năm trả góp 70% khoản tiền còn nợ là ba thập niên làm việc như nô lệ, tóm tắt trong “bốn không” (không dám ốm, không dám xin nghỉ việc, không dám đi du lịch, và không dám ăn ngon), chỉ cần thiếu tiền, chậm trả nợ trong một tháng là có thể mất nhà. Bối cảnh đó mở đường cho “văn hóa 996” lên ngôi, “phòng nô” chấp nhận bị chèn ép, bị sỉ nhục ở nơi làm việc, chấp nhận chất lượng cuộc sống chạm đáy, tiết kiệm tối đa để có tiền trả nợ nhà.
Thực trạng “phòng nô” còn bóp méo các giá trị truyền thống. Giá nhà quá cao, nợ nần quá lớn, quá nặng nề khiến hôn nhân trong những thanh niên Trung Quốc cư trú tại các đại đô thị có khuynh hướng trở thành thực dụng. Khi kết hôn, chẳng có gì bất thường nếu vấn đề được cả hai phía quan tâm chỉ là người phối ngẫu tương lai có khả năng chia sẻ gánh nặng nợ nần lúc mua nhà hay không. Giá nhà quá cao cũng là lý do khiến những cặp vợ chồng trẻ không còn khả năng tài chính để sinh và nuôi dưỡng một đứa trẻ, chẳng phải tự nhiên mà phần lớn “phòng nô” lựa chọn lối sống DINK (nhân đôi thu nhập, không sinh con), rồi an ủi lẫn nhau rằng họ sẽ là thế hệ cuối cùng phải gánh vác nợ nần.
Khi giá nhà tại Việt Nam gấp 30 lần thu nhập trung bình/năm, giới trẻ và thường dân tại Việt Nam phải nhịn mọi thứ suốt 30 năm mà vẫn không thể mua được một căn nhà thì “phòng nô” đã hiện diện rồi. Chuyện những cặp vợ chồng trẻ không dám sinh con hoặc nếu đã có con thì gửi đứa trẻ về quê nhờ cha mẹ nuôi dưỡng không còn cá biệt.
Năm ngoái, Viện Khoa Học Vùng Nam Bộ công bố kết quả cuộc khảo sát về dân số, nhân lực của Việt Nam và các tỉnh/thành phố Nam bộ năm 2024-2025, theo đó, có 22.2% người độc thân không có ý định lập gia đình, không muốn sinh con vì không đủ điều kiện về thu nhập và nhà ở.
Hoàn cảnh tác động tới suy nghĩ, rõ ràng lựa chọn như vừa đề cập có quan hệ mật thiết với sinh suất của Việt Nam liên tục rơi càng lúc càng sâu hơn mức bình thường (thay vì phải là 2.1 con/phụ nữ thì chỉ còn 1.93 con/phụ nữ, thậm chí ở một số đô thị như TP.HCM, sinh suất đã giảm tới 1.2 con/phụ nữ), đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số. Thực trạng này chẳng khác gì “tam bất” (không kết hôn, không sinh con, không mua nhà) trong phong trào “nằm thẳng” ở Trung Quốc.
Cũng năm ngoái, báo cáo do Cục Thống Kê công bố khiến nhiều người, nhiều giới đồng loạt cảnh báo, số lượng “thanh niên hai không” (không có việc làm, không tham gia học tập, đào tạo) tại Việt Nam đang tăng dần. Số thanh niên thuộc nhóm “hai không” xấp xỉ 1.5 triệu.
Trong xã hội học có một thuật ngữ gọi là NEET (Not in Education, Employment, or Training – không đi làm, không đi học, không học nghề). “Thanh niên hai không” chính là NEET. NEET dù thụ động (do hoàn cảnh xô đẩy) hay chủ động (do tư tưởng, chủ động chọn “không”) đều bị xem là là một “bom nổ chậm” về kinh tế và an sinh xã hội bởi lãng phí nguồn lực của quốc gia, hệ lụy tâm lý vì khó tái hòa nhập, mầm mống gây bất ổn cho xã hội).
Ngoài số lượng “thanh niên hai không” đang tăng dần, báo cáo của Cục Thống Kê còn cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi dưới 24 tuổi rất cao (hơn 9%), gấp bốn lần tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước. Trong thực tế, càng ngày càng nhiều thanh niên Việt Nam rơi vào tình trạng “thất nghiệp có bằng cấp.” Đó không phải chỉ đơn thuần là lãng phí mà còn đẩy những thanh niên này vào tình trạng mất phương hướng. Sau đại dịch COVID-19, nhiều triệu thanh niên Trung Quốc rơi vào tình trạng giống vậy và sau đó chọn lối sống thu mình, ngắt kết nối với xã hội, tạo ra trào lưu “tộc chuột mới.”
Trung Quốc cung cấp hàng loạt ví dụ về hậu quả của phát triển lệch lạc khiến giới trẻ nói riêng và thường dân nói chung không thể đạt được sự ổn định trong đời sống, cũng như nuôi – giữ hy vọng về tương lai. Chính sự bế tắc ở hiện tại và sự bất định ở tương lai đã khiến thế hệ trẻ Trung Quốc dùng sử dụng quyền từ chối, kể cả từ chối duy trì nòi giống như một cách phản kháng áp lực sinh tồn mà thể chế tạo ra và đè nặng lên họ. Có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy, thế hệ trẻ Việt Nam đã bị đẩy đến đoạn đầu của “nằm thẳng.” Liệu chính quyền Việt Nam có đủ ý thức trách nhiệm và khả năng để ngăn những “nằm thẳng,” hay “buông xuôi” trở thành phong trào, tổn hại không chỉ vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc mà còn hủy diệt thế hệ trẻ? [kn]






















































































