Chu Dũng Sĩ/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Trong lúc họ đang ngồi chờ, có hai cán bộ cao cấp Việt Cộng đi ngang qua. Một anh lính Nhảy Dù trọc đầu đưa tay lên búng ‘tróc tróc” và nói, “Đại ca, đại ca! Cho xin tí lửa!” Người cán bộ khá lớn tuổi, nước da xanh, môi thâm đen, đứng lại có vẻ bực mình lắm, nhưng móc hộp quẹt ra bật lửa cho anh lính châm thuốc hút. Châm xong, anh lính nói, “Cám ơn đại ca.” Ông cán bộ không nói gì, rồi bước đi. Nhóm sĩ quan tù binh ngồi chứng kiến cảnh ấy đều phì cười, qua thái độ hồn nhiên của các binh sĩ của VNCH.

Tù binh gặp nữ dân công CSBV
Tù binh sĩ quan bị chia làm ba nhóm. Ông Bửu ngồi ở cái sạp cách nhóm thứ nhì chừng 20 thước. Sườn núi không dốc lắm, nó hơi thoai thoải. Có dòng suối thác chảy, cái thác nhỏ thôi, không biết nước từ đâu chảy đến, ở dưới suối có đám nữ dân công đi lên đi xuống. Ông Bửu đoán đây là đại bản doanh của Việt Cộng. Đám nữ dân công đứng dưới suối dòm lên đám tù binh.
Cái quần ông Bửu đang mặc thuộc loại vải NoMex của phi công trực thăng Mỹ không bị cháy. Bộ quân phục này áo riêng, quần riêng. Lúc trước, ông Bửu mua một bộ phi công size lớn ở Chợ Cồn Đà Nẵng, đem cho thợ may cắt sửa mặc vừa vặn rất đẹp. Bộ này mới tinh, mặc lần đầu tiên đi trận Hạ Lào rồi bị bắt. Hàng Mỹ may bằng chỉ nylon, còn thợ Việt khi sửa lại may bằng chỉ thường, cho nên khi bị đứt chỉ thì đường may bị tuột luôn.
Ông Bửu nhớ lại: “Chiều hôm bị bắt, một ống quần bên phải của tôi bị rách từ dưới chân lên tới háng, ống kia còn nguyên, khi đi ống quần rách cứ phất phơ như váy maxi đưa cái đùi trắng hếu ra. Tôi ngồi đó, mấy cô dòm lên thấy đùi trắng hếu của tôi. Một cô giọng Quảng Bình hỏi, ‘Tại sao cái quần rách mà không vá?’ Tôi trả lời, ‘Không có kim chỉ lấy gì mà vá!’ Đám dân công Quảng Bình đứng phía dưới suối cách cũng khá xa, tụi canh gác thấy không cần thiết phải canh giữ chúng tôi, vì ngay đại bản doanh chúng tôi không thể chạy trốn đi đâu được hết. Tuy nhiên, cũng có vài người lính CSBV ngồi gác cho có lệ.”
Ông kể tiếp: “Mấy cô bỏ đi, một lát sau, cô lên tiếng hỏi hồi nãy trở lại với kim chỉ. Tôi nói, ‘Đem lên giùm.’ Cô ta trả lời, ‘Không được, ông xuống đây lấy.’ Thế là phải hỏi tên lính gác cho tôi xuống lấy kim chỉ vá quần được không. Tên lính gật đầu. Tôi tuột xuống lấy kim chỉ lên, ngồi một mình khâu vá cái quần lại đâu đó đàng hoàng. Một lát cô dân công trở lại, tôi đem kim chỉ tuột xuống suối trả lại cho cô và cảm ơn cô. Nhờ vậy mà có quần lành lặn mặc ra đến Hà Nội. Vì tôi may hai đường chỉ rất kỹ.”
Lúc đó, có một tên Việt Cộng trong toán khác thấy vậy nổi ghen, nó tới hỏi, “Các anh nói chuyện gì với mấy cô?” Ông Bửu trả lời, “Có ai nói chuyện gì đâu, quần tôi rách mấy cô cho mượn kim chỉ tôi vá thôi, chứ có quen biết gì đâu mà nói chuyện.’ Nó tức lắm nhưng không có cớ gì khác, để bắt bẻ chúng tôi được.”
Tù binh bị đưa đến đại bản doanh của quân đội CSBV
Đại bản doanh, tức là chỗ Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch mà Việt Cộng gọi là Đường 9 Nam Lào (Trận Hạ Lào). Từ đó đi thì ít lên xuống dốc như các ngày trước. Nhưng phải đi ngang khu vực mà Tướng Mỹ Taylor gọi là đường mòn Hồ Chí Minh. Thật ra đó là hệ thống đường xe mà Việt Cộng đặt tên là đường 559. Đường xe chạy ở khu vực ấy cũng lên dốc, xuống dốc, lên núi, xuống núi khổ sở lắm, chứ không phải đường bằng.
Ông Bửu kể: “Chúng tôi phải băng ngang hay bước đi trên những đoạn đường như thế nhiều lần. Mỗi lần tới các đoạn đường trống trải, Việt Cộng chặt các cành cây nhiều lá và đưa cho mỗi tù binh cầm một cành. Mỗi lần thấy phi cơ OV-10 bay tới, thằng đi đầu hô, ‘Đứng lại! Che cành cây lên đầu.’ Rồi hắn cứ quan sát phi cơ, mỗi lần phi cơ nghiêng qua phía chúng tôi, thì nó hô đứng lại, che cành cây lên đầu. Đến khi phi cơ nghiêng qua bên kia, nó bảo tiếp tục đi, và cứ làm như thế mỗi lần có phi cơ xuất hiện.”

Ông cho biết thêm: “Khi thấy phi cơ xuất hiện, tôi đoán có lẽ chúng tôi đã về gần khu phi quân sự của mình. Vì gần các căn cứ Mỹ, phi cơ Mỹ mới bay nhiều như vậy. Phi cơ Mỹ không bay về phía Bắc, mà bay về phía Nam nhiều hơn. Họ bay và quan sát, nhưng không biết họ có thấy chúng tôi hay không. Cuối cùng chúng tôi bị buộc phải đi, đi trong tâm trạng rầu rĩ.”
Gặp thêm nhiều lính CSBV
Dọc đường có lính CSBV từ ngoài Bắc dồn dập đi bộ vào. Ở khu vực đó, họ không đi bằng xe mà đi bộ, và đi từ đâu tới đâu cũng không biết. Nhưng ông Bửu đoán có lẽ là họ tới từ đỉnh Trường Sơn, rồi từ đó, họ đi bộ theo các con đường mòn lên và xuống núi. Lính CSBV đi bộ rất giỏi, đi dồn dập về phía Nam. Họ còn phải đánh mặt trận phía Nam của Quốc Lộ 9, mà lúc đó lính CSBV chưa chiếm được Căn Cứ 30.
Ông Bửu suy đoán: “Có lẽ khi chúng tôi đi dọc đường tới ngày thứ bảy thì Căn Cứ 30 phải rút bỏ. Cho nên, lúc chúng tôi đang đi tới ngày thứ sáu, Căn Cứ 30 vẫn còn. Lúc đó mặt phía Nam Quốc Lộ 9 do Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn I Bộ Binh QLVNCH trấn giữ. Các căn cứ hỏa lực phía Nam Quốc Lộ 9 của hai đơn vị này đều nằm bên tả ngạn sông Srepok (cũng gọi là sông Poco). Sông Srepok chảy về hướng Tây, vì chỗ đó thuộc sườn phía Tây của dãy Trường Sơn.”
Ông nói thêm: “Chúng tôi vẫn tiếp tục đi bộ, nhưng đường đi không nhọc nhằn như những ngày đầu, mặc dù vẫn mệt lắm. Dọc đường đi có một Việt Cộng đi theo canh giữ tôi. Anh ta tự giới thiệu tên Hà là giáo viên ở ngoài Bắc. Người nầy rất đàng hoàng và tử tế. Anh ta hỏi, ‘Ở trong Nam anh học tới lớp mấy?’ Tôi trả lời, ‘Tôi học tới lớp 12.’ Người lính Bắc Việt dịu giọng, ‘Vậy anh hơn chúng tôi. Chúng tôi ngoài Bắc học chỉ tới lớp 10 là hết rồi’.”
Ông Bửu nhớ có buổi chiều tối, khi vừa xuống hết một đoạn đường dốc mà nhóm tù binh đi từ sáng sớm, tới một chỗ trũng khá bằng phẳng. Họ thấy một đoàn Việt Cộng đi ngược lên dốc. Một anh lính CSBV thì sấn tới ông Bửu, nói: “Cái thằng này to con đấy!” Tức thì anh chàng giáo viên áp tải mang súng AK báng xếp, tức là thuộc loại cao cấp hơn tụi AK báng gỗ, chĩa họng súng vào tên Việt Cộng vừa nói về ông Bửu, và ra lệnh, “Đồng chí đi chỗ khác!” Tên kia vội vàng vọt chỗ khác liền. Anh chàng giáo viên quay lại ông Bửu, và nói, “Xin lỗi anh, người đó không biết chính sách nên mới có thái độ như vậy.”
Ông Bửu tâm tình: “Phải nói rằng anh chàng tên Hà đó rất dễ thương. Trên đường đi, anh ta kể nhiều chuyện thời tập luyện đi bộ đường dài, cho nên tôi đi cũng bớt mệt. Lúc đi dọc theo một suối nước chảy rất trong, tôi than mấy hôm nay miệng tôi đắng quá. Trong lúc cả đoàn đang dừng lại nghỉ mệt, anh Hà đi đâu kiếm được một đoạn tre và vót cho tôi một cái cạo lưỡi bằng tre, và nói, ‘Anh dùng cái này nạo lưỡi sẽ bớt đắng.’ Thế là tôi giữ cái nạo lưỡi ấy ra tới Hà Nội luôn.”
Trên đường di chuyển về Bắc Việt, khi đi trên các đoạn đường xe chạy, nhóm tù binh phải lội ngang qua nhiều suối khá rộng. Lính CSBV rất giỏi ngụy trang để cho đường xe chạy phải vượt qua suối dù rộng hay hẹp, họ lấy đá dưới suối lót làm cầu ngầm cho xe chạy qua. Mặt lớp đá cách mặt nước chừng 50 phân. Dưới lớp đá là các ống cống đúc rất cứng. Vì vậy, nước không bị dồn lại mà cứ chảy bình thường. Ở trên nhìn xuống không ai biết chỗ đó có cầu ngầm bằng đá tảng và đá cuội.
Qua tới ngày thứ bảy kể từ hôm bị bắt, anh lính Bắc Việt trước là giáo viên đi cạnh ông Bửu, nói: “Bây giờ tôi phải quay lại rồi. Phận sự của tôi đến đây là hết. Anh nhớ giữ gìn sức khỏe, hòa bình rồi lại về.” Ông Bửu trả lời, “Bao giờ mới hòa bình anh ơi? Cứ đánh nhau suốt đời.”

Bàn giao tù binh
Sau đó đoàn tù binh bị giao cho một đám áp tải khác. Mà đám này mới là dân theo chủ nghĩa Mác-Lê chính cống. Ông Bửu nói: “Chúng nó nói cố gắng đi, sắp tới chỗ đi ô tô. Nghe vậy tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì có thể trên đường xe chạy mình nhảy xuống trốn, lo là càng ngày sẽ càng xa khu Phi Quân Sự. Chèn ơi! Nó nói sắp tới mà đi từ tờ mờ sáng cho tới khoảng gần khuya mới tới chỗ lên xe hơi. Sau bảy ngày đi bộ đã quá mỏi mệt rồi. Bây giờ được đi xe hơi chắc đỡ hơn. Ba người tù binh cấp tá được dẫn tới một chiếc xe nhỏ riêng, nhìn giống như xe Jeep. Nó bắt chúng tôi leo lên ngồi phía sau thùng xe vận tải có bọc mui vải. Mùi xăng cộng sản hôi vô cùng. Xe mới chạy chừng 10 phút thôi, tôi nghĩ, thà xuống đi bộ còn khỏe hơn. Bởi vì đường xóc kinh khủng.” [dt]
(Còn tiếp)










