Chung Tử Bửu và những ký ức ‘buồn-vui’ thời đi tù ở Bắc Việt

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Nhóm Việt Cộng giữ tù dẫn nhóm tù binh bị bịt mắt tới mấy chiếc xe Molotova đậu chờ sẵn. Tù binh phải bước trên một đống sắt xây dựng, mấy người lính Việt Cộng phải dìu từng người, họ luôn miệng nói, “cẩn thận, bước cẩn thận!”

Phi Công Chung Tử Bửu. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Vì họ bịt mắt nhóm tù binh bằng miếng vải the mỏng, nên ông Bửu thấy rõ đống dây sắt, nhưng cũng làm bộ không thấy, và cứ bước dò dẫm chậm chậm. Cuối cùng cũng lên xe. Kỳ này được ngồi trên băng ghế đàng hoàng. Lên xe rồi, mấy cô nữ quân nhân của Việt Cộng phát bánh mì cho từng tù binh. Một cô đưa bánh mì ngay trước mặt ông Bửu, nhưng ông vẫn làm bộ không thấy nên không đưa tay ra nhận. Cô ấy phải cầm tay ông Bửu lên, đặt ổ bánh mì vô tay. Ông Bửu nói: “Tôi cứ cười thầm trong bụng, vì sao mình đóng kịch khéo quá. Sau đó, xe chở nhóm tù binh về trại tạm giam. Sau này tôi mới biết đó là trại Ngã Tư Sở, Hà Đông. Nơi đó gọi là ‘trại giam cứu’ tức là trại thẩm vấn tù binh.”

Ông kể thêm: “Lúc xuống xe thì có chuyện rất tức cười. Xe cao, nên tụi nó kê ghế đẩu cho bước xuống. Có thằng thiếu úy Bắc Việt tên Hoàng, sau này chúng tôi đặt biệt hiệu cho hắn là Hoàng Cẩu, nói với giọng nghiêm trang, ‘Cẩn thận! Cẩn thận!’ Rồi cầm cổ chân tôi nói, ‘Đây này, đạp xuống đây. Cái này là cái ghế. Rồi… rồi, bước xuống.’ Xuống tới đất, chúng dẫn vô phòng, mà ai cũng vờ vịt không thấy đường. Sau khi bọn tôi được tháo bịt mắt, thằng Hoàng Cẩu bắt đầu nghi ngờ. Nó lấy mấy miếng vải bịt mắt soi lên trời xem xét rồi nhăn mặt với nét vẻ tức tối và hoàn toàn khinh bỉ. Hắn nói, ‘Úi giời, chúng nó giả vờ!’”

Vào phòng giam đầu tiên ở trại giam Ngã Tư Sở, Hà Đông

Bốn người đầu tiên bị đưa thẳng vào phòng có ông Bửu, anh Thương, anh Phương, và Bùi Tấn Mỹ, chuẩn úy pháo binh. Chúng bắt cởi hết đồ ra, tất cả đều trần truồng. Họ phát cho mỗi người hai bộ áo dài tay và quần dài màu xám, không có nút, chỉ có dây cột; hai bộ đồ lót gồm có quần đùi và áo lót bằng vải. Riêng ông Bửu thì được một bộ đồ dài mặc vừa màu xám lợt, một bộ xám đen rộng thùng thình, quần kéo lên tới ngực, vạt áo lòng thòng xuống tới đầu gối.

Ông Bửu nói: “Tôi biết đây là quần áo chúng nó may cho tù binh Mỹ. Mấy bộ rộng đó vải rất dầy và tốt. Sau khi phát quần áo xong xuôi, tất cả đồ đạc của chúng tôi bị tịch thu, không còn gì hết. Chúng khóa cửa lại, cài then gỗ bên ngoài. Tôi ngồi xuống thở dài, ‘Xong! Đời mình tới đây là hết. Không còn hy vọng gì trốn thoát được nữa. Coi như đời mình tới đây là kết thúc.’ Bốn người ngồi lặng lẽ, mỗi người một cái phản nhỏ bằng gỗ có chân chống hai đầu. Tôi ngồi trên phản gỗ thứ nhì tính từ ngoài cửa vào. Mỗi người được phát một chiếc chiếu đơn, một cái mùng màu cứt ngựa, hai bộ quần áo, hai bộ đồ lót (xà lỏn và áo may bằng vải thô), một đôi dép râu (chỉ có quai trước, không có quai sau), một cái chén sắt tráng men, một đôi đũa tre, một bàn chải đánh răng, một ống kem đánh răng, và một cái bình tích bằng sành đựng nước uống. Tất cả các món đó chúng gọi là tư trang.”

“Trong phòng họ phát thêm một cái thùng kẽm tròn có nắp đậy làm bô đi cầu và đi tiểu. Chúng tôi cứ ngồi ngơ ngẩn nhìn nhau. Không ai nói gì, chỉ nhìn quanh buồn bã. Tối đến, chúng mang cơm tới. Lúc đó, tụi tôi ăn bánh mì thấy ngán rồi, nên có cái xô giống thùng rác, tụi tôi đem bánh mì quăng vô đó. Nhưng họ cho ít cơm quá nên tụi tôi đập cửa rầm rầm. Thằng gác chạy lại hỏi, ‘Cái gì thế?’ – ‘Cho thêm cơm.’ Chúng tôi đâu biết là cơm chỉ có chừng đó thôi. Chưa bao giờ nghe chữ ăn độn. Đâu biết cơm độn bánh mì nướng là sang nhất Miền Bắc! Tên lính gác nghe đòi thêm cơm thì không nói gì hết, chỉ bỏ đi,” ông Bửu tâm tình thêm.

Quốc Lộ 9 Hạ Lào 1971. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Cũng theo ông Bửu, lúc đó, Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) chưa có một chính sách cụ thể nào cho tù binh sĩ quan Việt Nam. Tù binh Mỹ có thể được đối xử theo hiệp ước gì đó, còn tù binh Việt Nam thì không có gì hết. Ngày hôm sau, đám quản trại mới bắt đầu họp bàn gì với nhau về chính sách và tiêu chuẩn vật chất cấp phát cho tù binh. Rồi sau đó, nhóm bạn tù Việt Nam mới được phát mỗi ngày ba điếu thuốc lá Tam Đảo. Nếu là hiệu Trường Sơn thì được bốn điếu; và cuối cùng cũng có một xấp giấy bản thô ráp để đi cầu.

Chung Tử Bửu tâm tình: “Ban đầu, chúng tôi không có giấy đi cầu đành nhịn đi đại tiện, đòi hỏi riết mới được phát cho vài tờ giấy bản thô, trông gớm lắm. Phải cất kỹ để dành dùng từ từ. Cuộc sống đúng là cực khổ vô cùng so với hồi ở nhà. Nhưng dù sao thì ở trại đó là nơi văn minh nhất trong các trại tù binh về sau.”

Qua hôm sau, người trại trưởng cấp bậc thiếu tá tên là Ngọc đến thăm, mở cửa nói chuyện với nhóm tù binh. Họ cho biết kỷ luật của trại là gặp bất cứ ai thuộc phía họ, thì tù binh phải đứng nghiêm chào. Người lớn tuổi thì gọi là ông, trẻ thì gọi là anh và xưng là tôi. Nhóm tù binh đồng ý vì đó là luật tù binh quốc tế. Sau đó họ bắt đầu hỏi han, thăm dò những tù binh miền Nam, “Sao các anh thấy Miền Bắc thế nào?” Trong nhóm bạn tù có người hỏi, “Ở ngoài này sao chúng tôi thấy toàn cày ruộng bằng trâu. Nhưng ở trong Nam thì nông dân đã cày ruộng bằng máy hết rồi.” Nghe câu hỏi đó, họ ú ớ không trả lời được, nên đánh trống lảng nói sang chuyện khác.

Ông Bửu nói: “Qua hôm sau, không biết họ đã bàn bạc như thế nào, đến bây giờ có một tên lính Việt Cộng mở cửa phòng, rồi nói: ‘Cái chuyện mấy anh hỏi hôm qua đó, vì đất trong Nam tốt, nên cày bằng máy được. Còn đất ngoài này có phèn, máy cày sâu quá, không trồng lúa được… nên phải dùng trâu.’ Biết chúng trả lời kiểu dối trá, nhưng mình không lấy lý gì để bẻ bác được, nên không hỏi chuyện đó nữa. Tôi thì hỏi tại sao bữa ăn phải có bánh mì nướng mà không hoàn toàn cơm? Ở trong Nam chúng tôi đâu ăn kiểu đó. Họ ậm ừ không trả lời. Nhưng lúc họ đi rồi, có một anh lính gác quê ở Quảng Ngãi nói nhỏ, ‘Cái đó gọi là ăn độn. Đừng hỏi nữa!’”

Khoảng hơn một tuần sau, chúng đưa thêm hai người mới vào phòng ông Bửu, gồm có Trung Úy Thạch Tinh, đại đội trưởng Đại Đội Công Vụ của Tiểu Đoàn 2 Dù; Chuẩn Úy Nguyễn Xuân Chữ, mới ra trường Thủ Đức về Tiểu Đoàn 2 Dù, vừa ra Hạ Lào thì bị bắt liền. Tiểu Đoàn 2 Dù trấn giữ Căn Cứ 30 do Trung Tá Thạch chỉ huy. Vì sau khi Căn Cứ 31 bị tràn ngập, Căn Cứ 30 bị lẻ loi ở mặt Bắc, nên Tiểu Đoàn 2 buộc phải mở đường máu rút khỏi căn cứ đó lui về Khe Sanh. Tiểu Đoàn 2 bị chặn đánh, nên cả Thạch Tinh và Chữ đều bị bắt và giải ra Hà Nội. Tiểu Đoàn 2 Dù chỉ có 2 sĩ quan bị bắt, và binh sĩ bị đưa đi trại khác.

Vậy là phòng giam ông Bửu, giờ có sáu người. Họ ngồi kể lại những chuyện tức cười mà tụi Việt Cộng con phát ngôn. Nguyễn Xuân Chữ kể rằng khi bị bắt, mấy thằng Việt Cộng con nói với anh Chữ, “Mày là lính Con Chim hả? Chúng tao ghét nhất là bọn lính ‘Hổ Nhai Sao.’ Bọn ấy ác ôn lắm, chống chúng tao đến chết chứ không chịu hàng.”

Ông Bửu nói: “Lúc đó, chúng tôi cười ngất, vì hiểu phù hiệu của Binh Chủng Nhảy Dù là chim ó với cánh dù; còn phù hiệu Biệt Động Quân là đầu cọp hả họng giữa ngôi sao năm cánh. Tụi Việt cộng đâu biết tên của các binh chủng cho nên, chúng nó gọi Biệt Động Quân là lính ‘Hổ Nhai Sao.’ Vì phù hiệu của Việt Cộng là ngôi sao vàng trên nền đỏ, mà bị đầu con cọp hả họng ngay giữa ngôi sao nhai hoài thì chúng nó đâu chịu nổi!”

Cuộc thẩm vấn tại trại tù Bắc Việt

Ông nói thêm: “Chỉ vài hôm sau, họ bắt đầu thẩm vấn từng người. Nhưng họ khôn lắm, vì biết rằng nếu tra tấn thì tù binh sẽ phản ứng hoặc khai bậy, hay thà chết chứ không khai. Cho nên họ không đánh đập gì hết. Sau khi bắt kê khai lý lịch, họ đưa một ‘chuyên gia’ miêu tả các đặc điểm diện mạo tù binh. Tôi bị tả là sống mũi ‘gồ’ thay vì mũi thẳng. Sau đó chúng mang đến một cái máy cassette loại sản xuất từ Đông Âu, chắc của Tiệp Khắc hay Bulgaria, không phải hàng Liên Xô hay Đông Đức. Chúng dụ dỗ viết thư hoặc bài phát biểu nhắn về cho gia đình, rồi ghi âm để phát trên đài Hà Nội và cái gọi là Đài Giải Phóng.”

Mấy ông cán bộ Việt Cộng nói với nhóm tù binh: “Viết đi, các anh muốn nói gì cứ nói. Xong rồi nộp lại cho chúng tôi.” Nhưng khi những người tù binh nộp những lời muốn nói, thì mấy ông cán bộ Việt Cộng không chịu và phê phán này nọ, và nói: “Chỗ này không được, anh viết như vậy không ổn. Anh phải sửa lại đoạn này.”

Không Quân hậu cần Chiến Dịch Hạ Lào 1972. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp).

Ông Bửu nói: “Rồi cứ như vậy sửa đi sửa lại nhiều lần. Sửa tới lần thứ năm thì những gì viết ra trở thành lời của tụi nó, mà do chính tay mình viết theo ý của tụi nó. Mấy người trong phòng tôi, ai cũng viết theo kiểu như được gợi ý. Chỉ có tôi là người không chịu sửa gì hết. Sau khi coi xong những lời tôi viết, một tên Việt Cộng nói, ‘Anh Bỉu (Bửu) ạ, anh viết thế này chưa đủ ý. Anh chữa lại đi, rồi chúng tôi cho anh nhắn tin về gia đình.’ Tôi đáp thẳng, ‘Khỏi sửa gì hết. Tui không sửa, mấy ông cho nhắn tin thì tôi nhắn, không cho thì thôi. Tôi không cần.’ Vì tôi đã giữ thái độ cứng cựa ngay từ đầu, từ lúc bị giải đi dọc đường và đã cãi nhau với cái thằng Mác-Lê rồi. Ra tới đây cũng vậy. Tôi viết những gì tôi muốn viết, nhưng không hề nói xấu ai cả.” [dt]

video
play-rounded-fill