Trúc Phương/Người Việt
Trump đã thực hiện một cú “đánh bùn sang ao” khi ngày 3 Tháng Tám, ông chỉ trích giám đốc điều hành Chevron, Mike Wirth, về việc không giảm giá xăng khiến dân tình khốn đốn. Trump hoàn toàn tảng lờ nguyên nhân thật sự: cuộc khủng hoảng giá xăng được khởi phát từ chính cuộc chiến với Iran mà ông gây ra. Tính đến thời điểm này, kho dầu dự trữ chiến lược của Mỹ (Strategic Petroleum Reserve – SPR) đã cạn đến đáy…

SPR còn bao nhiêu thùng?
Tháng Tám, 2024, trong cuộc vận động tranh cử, ứng cử viên Donald Trump nói rằng Joe Biden đã phá banh kho dầu dự trữ chiến lược khi dùng bừa bãi; và “tôi sẽ lấp đầy kho dự trữ chiến lược này ngay lập tức.” Hai năm sau, SPR không chỉ không tăng thêm thùng nào mà còn cạn đến đáy.
Cuộc chiến Iran, với việc eo biển Hormzu bị phong tỏa, đã khiến SPR hao hụt nhanh chưa từng có. Theo số liệu do Geiger Capital và Hedgeye công bố, SPR hiện ở mức thấp nhất kể từ 1983 và lượng dầu còn lại chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của Mỹ trong vỏn vẹn 16 ngày.
Số liệu tồn kho được xác thực gần đây nhất là 304.8 triệu thùng, tính đến ngày 31 Tháng Bảy. Con số này chỉ bằng khoảng một nửa so với mức đỉnh 726.6 triệu thùng ghi nhận vào ngày 27 Tháng Mười Hai, 2009. Chỉ vài ngày khi cuộc chiến với Iran bắt đầu vào cuối Tháng Hai, Trump ra lệnh xả 172 triệu thùng từ SPR. Dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) cho biết lượng dầu dự trữ trong SPR sẽ giảm còn khoảng 243 triệu thùng khi kế hoạch xả kho của Trump hoàn tất. Theo Bộ Năng lượng, SPR có công suất lưu trữ được cấp phép là 714 triệu thùng.
Năm 1975, khi đang chao đảo trước lệnh cấm vận dầu mỏ của khối Arab, Tổng Thống Gerald Ford ký Đạo Luật Chính Sách và Bảo Tồn Năng Lượng, với việc thành lập SPR như một nguồn dự phòng khẩn cấp nhằm đối phó bất kỳ cuộc khủng hoảng nào tương tự.
Theo thời gian, SPR ngày càng cạn. Trong giai đoạn COVID-19, Tổng Thống Joe Biden cho rút ra 50 triệu thùng và sau đó rút thêm 180 triệu thùng để đối phó cú sốc năng lượng gây ra bởi cuộc chiến của Nga nhằm vào Ukraine. Đây là đợt xả kho lớn nhất lịch sử SPR. Nếu không xảy ra cuộc chiến với Iran, SPR có thể dần được châm đầy lại. Tuy nhiên, điều đó không thể xảy ra.
Cần biết, SPR là nơi chứa dầu thô được lưu trữ trong 60 hang muối dọc Bờ Vịnh (Gulf Coast), chủ yếu ở Texas và Louisiana. Các vách muối của hang có khả năng niêm phong tốt, ít rò rỉ; và nhờ các đặc tính hóa học độc đáo, hang chứa cho phép dầu từ từ luân chuyển bên trong thay vì nằm yên một chỗ. Hệ thống này có thể duy trì trữ lượng 727 triệu thùng trong nhiều thập niên, miễn nó được quản lý và tu bổ đàng hoàng.
Giới chuyên gia cho biết, mốc 300 triệu thùng là “Mức Vận Hành Tối Thiểu” của SPR. Nói cách khác, SPR không nên được rút xuống dưới mức 300 triệu thùng. Tại sao? Vấn đề nằm ở yếu tố kỹ thuật. Để rút dầu thô ra, người ta phải bơm một lượng lớn nước ngọt vào hang nhằm tận dụng áp lực thủy lực để đẩy lớp dầu (vốn nhẹ hơn) nổi lên trên. Tuy nhiên, qua mỗi chu kỳ rút dầu, nước ngọt sẽ hòa tan lớp muối bao quanh vách hang, làm biến dạng cấu trúc thành hang, khiến khoang chứa ngày càng bị khoét rộng, làm thay đổi tỷ lệ giữa thể tích và áp suất bên trong.
Nói cách khác, việc liên tục rút dầu, đặc biệt khi nó ở mức thấp dưới 300 triệu thùng, sẽ đẩy nhanh quá trình xói mòn do muối, dẫn đến nguy cơ sụp đổ toàn bộ cấu trúc hang chứa. Câu chuyện cho thấy, việc SPR cạn không chỉ là vấn đề thiếu nguồn dầu dự trữ mà còn là việc kho chứa đối mặt nguy cơ bị hư hại.
Thời điểm hiện tại, theo CNBC, giới kiểm toán viên liên bang cho biết hơn một phần tư lượng dầu trong SPR “không thể đưa ra sử dụng,” bởi việc gia cố kho chứa chưa hoàn thành. Phân tích của Rapidan Energy vào Tháng Bảy cho biết thêm, có ít nhất 103 triệu thùng dầu trong SPR hiện không thể rút ra được.
David Goldwyn, đặc phái viên Bộ Ngoại Giao phụ trách các vấn đề năng lượng quốc tế thời Barack Obama, nói, “mỗi lần xả kho, người ta lại đẩy nhanh quá trình xuống cấp của các giếng khoan và một số thiết bị.” Đó là lý do mà nhiều tiếng nói từ cả hai đảng, từ Hạ Viện lẫn Thượng Viện, từng nhiều lần cảnh báo việc rút dầu ồ ạt. Dân Biểu Thomas Massie (Cộng Hòa, Kentucky) nói rằng việc rút nguồn dầu dự trữ trong SPR một cách vô tội vạ “nhằm che đậy chi phí chiến tranh sẽ dẫn đến nguy cơ làm sụp đổ các hang muối chứa dầu dự trữ.”
Trong khi đó, Trump luôn đánh lừa công chúng rằng nguồn dầu dự trữ của Mỹ nhiều đến mức “xài vô tư”. Nhà kinh tế học Marnix Amand thuộc Đại Học Yale nhận định, cuộc khủng hoảng Trung Đông mà Trump đang bế tắc, với gút mắc lớn nhất là eo biển Hormuz vẫn bị phong tỏa, đã khiến Trump chẳng khác gì kẻ “đang tiêu tán di sản vị thế bá chủ suốt nhiều thập niên của nước Mỹ khi rút cạn nguồn dự trữ dài hạn về quyền lực, tính chính danh và an ninh quốc gia chỉ để phục vụ các mục tiêu chính trị ngắn hạn.”
Khi Mỹ không còn nhiều “đạn”
Điều đầu tiên cần làm rõ là SPR không phải kho chứa phục vụ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày. Mỹ vẫn là quốc gia sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, với sản lượng trên 13 triệu thùng mỗi ngày. Ngoài nguồn khai thác nội địa, Mỹ còn nhập dầu từ Canada, Mexico và nhiều đối tác khác. Các doanh nghiệp tư nhân cũng có trữ lượng tồn kho đáng kể.
Nếu SPR giảm xuống mức thấp, người dân Mỹ, trong ngắn hạn, không đối mặt cảnh thiếu xăng hay các cây xăng phải đóng cửa. Điều đáng lo nằm ở chức năng khác của SPR. Đây là “quỹ dự phòng cuối cùng” của nước Mỹ, được lập ra sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 để sử dụng trong các tình huống khẩn cấp.
Trong nhiều thập niên, sự tồn tại SPR mang lại hiệu ứng tâm lý mạnh mẽ cho thị trường. Khi giá dầu tăng nhanh, Tòa Bạch Ốc có thể tuyên bố xuất kho hàng chục triệu thùng. Nguồn cung bổ sung không phải lúc nào cũng đủ lớn để thay đổi cán cân cung-cầu nhưng nó gửi đi thông điệp rằng chính phủ Mỹ sẵn sàng can thiệp. Điều đó giúp hạ nhiệt khả năng đầu cơ và giúp kéo giá dầu và giá xăng xuống.
Nếu SPR ở mức rất thấp, công cụ này sẽ mất đi yếu tố đặc tính ổn định thị trường. Thị trường sẽ hiểu rằng Washington không còn nhiều “đạn”. Chỉ riêng điều đó cũng có thể khiến giá dầu phản ứng mạnh hơn mỗi khi xuất hiện biến cố địa chính trị nào đó. Một vụ tấn công vào cơ sở dầu khí ở Trung Đông, một cơn bão lớn ở Vịnh Mexico hay một tuyến vận tải dầu bị gián đoạn có thể khiến giá dầu tăng nhanh, bởi nhà đầu tư biết rằng Mỹ không còn nhiều khả năng tung thêm dầu dự trữ để trấn an thị trường.
Trong trường hợp xảy ra chiến tranh quy mô lớn ở Trung Đông hoặc một sự kiện làm gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung toàn cầu, SPR chính là “đệm an toàn” để nền kinh tế Mỹ có thêm thời gian thích nghi. Nếu lượng dầu dự trữ giảm sâu, khoảng thời gian chống chịu trước cú sốc sẽ ngắn hơn. Điều này không đồng nghĩa nước Mỹ mất khả năng ứng phó nhưng biên an toàn bị thu hẹp đáng kể.
Đó là lý do Bộ Quốc phòng Mỹ luôn coi SPR không chỉ là vấn đề năng lượng mà còn là một tài sản chiến lược phục vụ quốc phòng. Trong mọi kế hoạch ứng phó khẩn cấp, khả năng duy trì nguồn nhiên liệu cho quân đội, giao thông và các ngành kinh tế thiết yếu luôn đóng vai trò quan trọng. Ở góc độ địa chính trị, lượng dầu dự trữ giảm cũng khiến ảnh hưởng của Mỹ trên thị trường năng lượng thế giới giảm.
Trong nhiều năm, Washington thường phối hợp với các đồng minh trong Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) để cùng xuất kho khi xảy ra khủng hoảng, qua đó làm dịu giá dầu và hạn chế sức ép từ các nước xuất cảng dầu. Khi “kho vũ khí” của chính mình không còn dồi dào, khả năng dẫn dắt các chiến dịch ổn định thị trường của Mỹ cũng giảm theo.
Điều đó còn có nghĩa các nước trong khối OPEC (Organization of the Petroleum Exporting Countries) giờ đây có nhiều đòn bẩy hơn để trục lợi. Nếu các nước xuất cảng dầu cắt giảm sản lượng trong lúc Mỹ không còn nhiều dự trữ để bù đắp, ảnh hưởng OPEC đối với giá dầu toàn cầu sẽ lớn hơn. Đây là điều mà Washington luôn muốn tránh, bởi giá năng lượng cao không chỉ tác động đến người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Một hệ quả khác ít được chú ý nữa là chính sách tiền tệ. Giá dầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát. Nếu các cú sốc nguồn cung khiến giá dầu tăng mạnh mà chính phủ không còn nhiều khả năng can thiệp thông qua SPR, áp lực lạm phát có thể kéo dài hơn. Khi đó, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc hạ lãi suất, bởi giá năng lượng cao thường lan sang chi phí vận tải, sản xuất và thực phẩm.
Một cách toàn cảnh, có thể thấy, ở góc độ hẹp và ngắn hạn, trong bối cảnh mà nước Mỹ đang đối mặt, với cục diện Trung Đông hoàn toàn bế tắc, bất kỳ trấn an nào trên Truth Social về việc giá xăng “sẽ giảm vào ngày mai” đều là nhảm nhí. Kỳ vọng về việc giá sinh hoạt giảm cũng không thể xảy ra ở thời điểm hiện tại. [kn]


























































































































































