Lâm Hoài Thạch/Người Việt
ANAHEIM, California (NV) – Tháng Tám, 1971, ông Phạm Văn Thành, quê Long Xuyên, nộp đơn xin vào Trung Tâm 4 Quân Cảnh, Cần Thơ, do nơi này tuyển mộ. Sau khi trúng tuyển, ông được đưa về Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng, Châu Đốc, để thụ huấn.

Sau đó ông được về Trường Huấn Luyện Quân Cảnh, Vũng Tàu, để thụ huấn Khóa 7/71 Căn Bản Quân Cảnh. Cuối năm 1971, tân Quân Cảnh Phạm Văn Thành được về phục vụ tại Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh, Sài Gòn.
Khoảng Tháng Ba, 1972, ông Thành được lệnh gọi về bộ chỉ huy của Tiểu Đoàn 5 Quân Cảnh và được điều về Tiểu Đoàn 7 Quân Cảnh thuộc Trại Giam Tù Binh Cộng Sản Phú Quốc.
Lúc bấy giờ, trại giam tù binh Phú Quốc có 12 khu giam giữ tù binh Cộng Sản và nhiều phòng giam giữ những tù binh đặc biệt. Tổng cộng có khoảng trên 28,000 tù binh.
Ông Thành kể: “Cứ mỗi lần tù binh nổi loạn, thì trại giam phải báo cáo về trung ương. Ít ngày sau thì có phái đoàn Hoa Kỳ lo về luật tù binh xuống để khảo sát, xem tù binh đòi hỏi những eo sách gì thì họ sẽ cung ứng theo yêu cầu của tù binh, đúng với luật tù binh của chính phủ Hoa Kỳ. Cùng vì thế mà tù binh thường có những cuộc nổi loạn.”
Đời sống của những gia đình Quân Cảnh tại trại giam tù binh
Vì Phú Quốc là một đảo lớn nên thường có những cơn mưa rào, mưa rất lâu và nặng hạt. Có những cơn mưa tầm tã đến nỗi người ta đứng cách nhau chừng 4 mét thì sẽ không trông thấy nhau.
Ông Thành kể: “Vì thế, tù bình thường lợi dụng những cơn mưa lớn này để vượt ngục, bằng cách họ vượt qua những hàng kẽm gai, mà những người Quân Cảnh canh gác không thể nhìn thấy. Khi dứt cơn mưa lớn, lúc kiểm điểm lại số tù binh thì mới phát hiện có vài người vắng mặt, đó là những tù binh đã trốn khỏi trại.”
“Có khi những nhân viên Quân Cảnh phát hiện những đường hầm, do tù binh đào để tìm cách trốn trại, nhưng đều bị những nhân viên an ninh của trại giam tìm thấy trước khi họ đào tẩu. Một số tù binh bỏ trốn vào rừng sâu, phần nhiều vì không tìm được đường để ra khỏi khu rừng rậm, rồi đói khát hay bị bệnh mà chết bỏ thây giữa rừng. Nhưng cũng có những tù binh khi đào tẩu gặp được những du kích quân Cộng Sản thì họ sẽ được nhóm này cứu giúp,” ông nói.
Thời đó, quần đảo Phú Quốc được gọi là Đặc Khu Phú Quốc. Quận Dương Đông được nằm gần hướng Bắc. Trại giam tù binh thì nằm tại Đặc Khu Quân Sự An Thới, ở hướng Nam, Phú Quốc, nơi có nhiều căn cứ Hải Quân, và toàn đảo có vài tiểu đoàn Địa Phương Quân đóng quân giữ lãnh thổ.
Phú Quốc cách thị xã Rạch Giá khoảng 120 cây số, người ta đến Phú Quốc thường dùng phương tiện tàu buôn, tàu chở hành khách hoặc đường hàng không. Lúc đó, vì phương tiện ghe tàu chưa có hệ thống tàu cao tốc, nên từ Rạch Giá ra đến Phú Quốc nếu đi bằng tàu thì mất khoảng hơn 10 tiếng, khi biển êm. Còn nếu trời biển động thì phải đi trên 15 tiếng.
Mỗi ngày, những chuyến tàu chở hành khách và nhu yếu phẩm như gạo, trái cây, rau cải… khoảng 2 đến 3 giờ sáng thì đã cập bến An Thới. Vì thế, lúc đó chợ An Thới hoạt động từ 2 giờ sáng, những ai đến 5, 6 giờ sáng thì sẽ không còn những thực phẩm tươi tốt nữa, ngoại trừ cá biển.
Lúc đó, gia đình ông Thành được sống trong khu gia binh của trại giam tù binh Phú Quốc.
Ông kể: “Khi muốn đi chợ An Thới thì tôi phải thức dậy khoảng 2 giờ sáng, rồi lội bộ ra chợ thì cũng gần 3 giờ sáng. Trong giờ này, khu chợ đã bắt đầu nhộn nhịp, những quán cà phê, quán ăn cũng đều mở cửa. Tôi thường đứng ngay bến tàu để chờ những tàu từ Rạch Giá cập bến An Thới, để tìm người quen hay những bạn Quân Cảnh đến phục vụ tại trại giam tù binh.”
Khi đi chợ xong, khoảng hơn 5 giờ sáng, ông Thành bắt đầu lội bộ về trại giam, trên tay còn phải bưng xách nào gạo, cá thịt, rau cải để về đến khu gia binh giao lại cho vợ. Cũng có lúc may mắn gặp xe quân đội chở hàng hóa về cho trại giam, thì ông có thể “có giang” xe về.
Ông chia sẻ: “Khổ nỗi xe quân sự thời đó thì hiếm mà phần nhiều đã bị hư thắng hoặc hư đèn. Vì thế, ai muốn đi nhờ xe quân đội thì phải đứng chờ trên dốc cao, đợi khi xe vừa bò lên điểm cao nhất, thì tài xế mới có thể ngừng xe lại để rước mình, chớ lúc xe đang lên dốc thì không thể ngừng lại được. Rồi sau đó xe chạy xuống dốc để đi về khu trại giam.”
Ông Thành vui vẻ kể lại một kỷ niệm vui khi đi xe không đèn, không thắng: “Lúc xe đang xuống dốc thì tốc độ lại càng nhanh, nhưng không thể thắng được. Mấy bà con đang ngồi trên xe thấy xe đổ dốc nhanh quá, gọi ơi ới tài xế: ‘Bác tài ơi, làm ơn cho xe chạy chậm lại, lỡ trượt tay lái thì xe sẽ nhào xuống đồi, nguy hiểm quá.’ Người tài xế cười xòa nói: ‘Tôi không có đạp ga đâu, tại vì xe đang xuống dốc, mà thắng xe bị hư rồi, không thể chạy chậm được. Cái vụ này tôi đã quen rồi, bà con cứ an tâm, tôi sẽ không để xe nhào xuống đồi đâu.’ Riêng tôi thì đã quen cái vụ đi xe không đèn, không thắng này rồi, nên tôi rất bình tĩnh.”

Trao trả tù binh
Tháng Mười, 1972, ông Thành được về Ban Thường Vụ của Tiểu Đoàn 7 Quân Cảnh. Lúc bấy giờ, nhiệm vụ của ông chỉ dẫn tù binh đi tập dịch hằng ngày.
Hiệp Định Paris được ký vào cuối Tháng Giêng, 1973, sau đó việc trao trả tù binh giữa Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Cộng Sản cũng được thực hiện. Đến cuối Tháng Ba, 1973, trên 28,000 tù binh tại trại giam Phú Quốc không còn nữa. Bốn Tiểu Đoàn Quân Cảnh canh giữ tù binh ở các trại giam Phú Quốc phải di chuyển toàn bộ về quân trường Quân Cảnh, Vũng Tàu, để “hấp lại” khoảng năm tuần lễ, nhằm chuẩn bị sẵn sàng để giữ an ninh trật tự cho việc tổ chức đại lễ Ngày Quân Lực sẽ tổ chức vào ngày 19 Tháng Sáu, 1973, tại Đại Lộ Trần Hưng Đạo, kéo dài từ Chợ Lớn đến gần Chợ Bến Thành, Sài Gòn.
Bốn Tiểu Đoàn 7, 8, 9 và 14 Quân Cảnh từ Phú Quốc trở về đất liền có nhiệm vụ phải bảo vệ vòng đai của thủ đô Sài Gòn và những vùng phụ cận để giữ an ninh cho buổi tổ chức Ngày Quân Lực. Ngoài ra, họ còn có nhiệm vụ hướng dẫn đoàn xe quân đội của các quân, binh chủng VNCH từ nhiều nơi về đô thành để tham dự buổi duyệt binh đúng vào ngày 19 Tháng Sáu, 1973.

Giữ an ninh cho đại lễ Ngày Quân Lực tại Sài Gòn
Ông Thành kể: “Tất cả đoàn xe quân đội và các đoàn quân từ nhiều nơi về tham dự buổi duyệt binh được các toán Quân Cảnh hướng dẫn về tập trung tại Chợ Lớn trước đó một ngày. Hàng trăm nút chặn của Quân Cảnh cũng được thực hiện trước Ngày Quân Lực vài ngày để kiểm soát những quân nhân vào Đô Thành Sài Gòn không giấy phép, hoặc vi phạm quân phong, quân kỷ, và kiểm soát những Việt Cộng nằm vùng trà trộn với dân chúng để đột nhập vào thủ đô nhằm phá hoại buổi tổ chức Ngày Quân Lực.”
Hai ngày trước ngày đại lễ, tất cả những Quân Cảnh hợp cùng các đơn vị an ninh của quân đội và Cảnh Sát được tập dượt ở các nút chặn để giữ an ninh cho thủ đô Sài Gòn. Ông cho biết: “Tôi trong toán nút chặn ở đường Huỳnh Hữu Bạc, Tân Sơn Nhứt trong ngày tập dượt. Đúng vào ngày tổ chức Ngày Quân Lực, tôi và nhiều Quân Cảnh khác đứng nút chặn trước cửa chợ Tân Định. Sau cuộc duyệt binh, các nút chặn phải tiếp tục ở lại tại điểm kiểm soát cho đến chiều tối thì mới được rời điểm. Sau đó, toán chúng tôi về hậu cứ Tiểu Đoàn 5 Quân Cảnh ở Trại Lý Thái Tổ.”
Trước kia, tại căn cứ Quân Cảnh ở Suối Máu, Biên Hòa là nơi của Tiểu Đoàn 12 Quân Cảnh đóng quân, nhưng vì thặng dư quân số sau khi trao trả tù binh, nên Bộ Tổng Tham Mưu cho giải thể tiểu đoàn này và Tiểu Đoàn 11, Nha Trang. Vì các tiểu đoàn tác chiến của nhiều quân, binh chủng đang cần thêm những Quân Cảnh, nên một số Quân Cảnh của hai tiểu Đoàn 11 và 12 được sát nhập vào đơn vị Quân Cảnh của các tiểu đoàn tác chiến. Trước đó, mỗi khu chiến thuật hoặc những sư đoàn tác chiến chỉ có một phân đội Quân Cảnh mà thôi. Nhưng sau này, vì được bổ sung thêm quân số, nên mỗi sư đoàn tác chiến đều được thành lập một Đại Đội Quân Cảnh cơ hữu.

Giữ an ninh tại Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn
Tiểu Đoàn 7 Quân Cảnh từ Phú Quốc được về căn cứ Suối Máu, Biên Hòa, để thế Tiểu Đoàn 12 Quân Cảnh đã bị giải thể. Và có một số Quân Cảnh của Tiểu Đoàn 7 được biệt phái về Biệt Khu Thủ Đô, trong tầm hoạt động của Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh, trong số được biệt phái có ông Thành.
Ông Thành và Đại Đội Quân Cảnh biệt phái về Tiểu Đoàn 6 được phân phối đi giữ an ninh cho các phân khu đô thành và tỉnh Gia Định.
Ông kể: “Lúc bấy giờ, tôi trong nhóm tuần tiễu của Quân Vụ Thị Trấn, và cứ ba tháng sẽ được luân chuyển về các đặc khu, cấp quận tại đô thành. Trong những nút chặn từ những vùng ven đô thành như Phú Lâm, An Sương, Tân Thuận và Xa Lộ Đại Hàn.”
“Tháng Mười Một, 1973, tôi được nằm một trong những toán Kiểm Soát Chiến Xa, mà theo tôi nghĩ thì ít có người Quân Cảnh nào biết được toán kiểm soát đặc biệt này. Những toán Quân Cảnh này được nằm trong đồn của các đơn vị Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân. Toán của tôi gồm ba người đóng tại đồn Nghĩa Quân ở xã Linh Xuân Thôn, Thủ Đức. Tại đây, mỗi ngày đều có một Quân Cảnh và hai quân nhân của đồn trú giữ trạm Kiểm Soát Chiến Xa của quân đội VNCH vào Thủ Đô Sài Gòn,” ông cho biết thêm.
Cũng theo ông Thành, có lẽ Bộ Tổng Tham Mưu muốn kiểm soát chiến xa vào thủ đô Sài Gòn, vì họ sợ quân đội đảo chánh. Toán của ông ở trạm này được ba tháng, nhưng không thấy chiến xa nào đi theo khu này vào thủ đô cả.
Đầu Tháng Hai, 1974, ông được chuyển về tiểu khu Gia Định, rồi đến các trạm kiểm soát Bình Triệu, Bà Hôm, Cây Da Sà, Tân Thuận, Nhà Bè… Ít lâu sau, ông được về trạm kiểm soát ở Phú Lâm.

Được về làm việc ở gần quê nhà
Tháng Tám, 1974, Bộ Tư Lệnh Tiểu Đoàn 7 Quân Cảnh, Biên Hòa, ra lệnh thuyên chuyển ông Thành về Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh, Cần Thơ. Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lê Quang Trọng, kiêm chỉ huy trưởng Quân Cảnh Quân Khu 4.
Ông Thành làm việc tại Đại Đội E4 thuộc Bộ Chỉ Huy của Quân Đoàn 4, Cần Thơ. Nhiệm vụ của ông là giải giao những quân phạm tại Quân Lao ra Tòa Án Quân Sự Cần Thơ, và đưa những tân binh đến các trung tâm huấn luyện như Chi Lăng, Đồng Tâm, Quang Trung.
Ông Kể: “Có một chuyến đưa các tân binh đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Lúc trở về thì tôi ghé thăm các anh em Quân Cảnh bạn ở Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn. Khi đến nơi thì thấy anh em đã chuẩn bị ba lô để ra Quân Trường Dục Mỹ để học khóa ‘Rừng, Núi, Sình Lầy’ của binh chủng Biệt Động Quân. Đến lúc này, tôi mới biết là bốn Tiểu Đoàn 7, 8, 9 và 14 Quân Cảnh trước kia ở các trại giam tù binh Phú Quốc được đôn quân về binh chủng Biệt Động Quân, vì thặng dư quân số.”
Cũng may cho ông Thành là ông đã được chuyển về cơ hữu Quân Cảnh của Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh Cần Thơ, nên ông không có trong danh sách về binh chủng Biệt Động Quân tác chiến.
Tháng Chín, 1974, ông Thành thi đậu bằng Tú Tài Toàn Phần. Sau đó, ông được về trạm kiểm soát của khu vận chuyển Bắc Cần Thơ. Đến Tháng Mười Một, 1974, ông được về Trường Quân Vận, Quang Trung để học lấy bằng lái quân xa.
Tháng Ba, 1975, ông được về làm việc tại Bộ Chỉ Huy của Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh cho đến gần cuối Tháng Tư, 1975.

Vượt biên đến Hoa Kỳ
Ngày 30 Tháng Tư, 1975, toàn lãnh thổ miền Nam của VNCH bị thất thủ. Ông Thành trở về Long Xuyên cùng với gia đình.
Tháng Giêng, 1988, ông cùng gia đình vượt biên đường biển đến Philippines và Malaysia. Ngày 15 Tháng Chín, 1989, gia đình được định cư tại San Francisco, California. Vài tháng sau, gia đình ông di chuyển về Long Beach, California. Đầu năm 2010, họ định cư tại Anaheim, California cho đến bây giờ.
Ông nhớ lại, đầu năm 1999, một số thành viên người Việt mở Trung Tâm Sinh Hoạt Thanh Thiếu Niên Nguyễn Bá Học tại Westminster. Trung tâm này có những sinh hoạt như dạy Việt Ngữ, toán, computer, ca hát, đàn, võ thuật… cho những thanh thiếu niên người Việt.
Vì ông Phạm Văn Thành ngày xưa đã từng là huấn luyện viên của môn võ Vovinam tại Long Xuyên, nên ban tổ chức đã nhờ ông làm huấn luyện viên của môn võ Vovinam cho trung tâm này. Sau đó, các thành viên của trung tâm không còn hoạt động nữa, nhưng võ đường Vovinam Nguyễn Bá Học vẫn còn duy trì đến bây giờ, với sự hướng dẫn của võ sư Phạm Văn Thành.
Tháng Sáu, 2016, ông được bầu chọn làm hội trưởng Hội Ái Hữu Quân Cảnh, Nam California. Sau đó, ông được tái nhậm chức hội trưởng trong nhiệm kỳ thứ hai cho đến bây giờ. (Lâm Hoài Thạch) [qd]
Xem lại kỳ trước: Phạm Văn Thành, người Quân Cảnh thời chiến



























































































