Tự truyện Hồ Hoàng Hạ
Vừa mới từ hãng về đến nhà đã nghe mẹ của hai thằng nhóc con tôi lên chương trình cho đêm weekend:
– Chiều nay mình ăn cơm sớm, tối còn đi rước đèn với tụi nhỏ.
Tôi khựng một giây trước bà xã, không ngạc nhiên mà kinh ngạc:
– Lại Trung Thu rồi à?…
Ngày tháng nơi xứ người không chỉ nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Phải nói, như phi thuyền con thoi bay quanh quỹ đạo địa cầu mới đúng. Và, dường như kim đồng hồ ở Mỹ quay nhanh hơn ở… Việt Nam! (?). Chớp mắt đã hai năm ròng ăn nhờ ở đậu. Vậy mà vẫn thấy chưa quen nổi với nếp sống cùng sinh hoạt tốc độ cao của nước chủ nhà!
– Em sắm lồng đèn cho con chưa? Tôi ngó quanh trong nhà, hỏi vợ.
– Ðèn với đóm gì, anh. Ra địa điểm, Ban Tổ Chức có phát. Thiếu gì!
Cô ta có lý. Tôi nhớ năm ngoái, tại khu công viên Encanto, đám trẻ con được phát free lồng đèn lẫn đèn cầy. Tuy nhiên, phụ huynh nào hào phóng ủng hộ một vài đô bỏ vô thùng, cũng vẫn được… vui vẻ OK! Hai chú con tôi tất nhiên có phần. Hai ba cây đèn cầy xanh xanh đỏ đỏ gì đó với chiếc đèn giấy xếp vào, mở ra. Loại đèn rất tiết kiệm, theo kiểu chơi xong một đêm có thể vò lại, cẩn thận cất vô… thùng rác mà chắc chẳng có cô, chú nhỏ nào tiếc rẻ. Tiện lợi và hợp với phong cách… Mỹ!
Nhanh nhẹn thi hành lệnh của hiền nội, tôi chui vào phòng tắm với tâm trạng vui vui lẫn háo hức y hệt con nít. Dòng nước mát lạnh tẩy rửa, lôi tuột hết những nóng bức mệt nhọc sau một ngày làm việc còn bám trên người tôi xuống lỗ hổng bồn tắm, đặc biệt nhanh hơn mọi ngày. Tôi huýt sáo miệng, lơ mơ nghĩ về những đêm Rằm Trung Thu ở quê nhà với trẻ em hiện tại. Và xa hơn nữa, mùa của quà bánh rước đèn của chính tuổi thơ tôi, những chuỗi ngày yêu dấu khó quên. Tôi cảm thấy thương hai thằng con. Tuổi ấu thơ của chúng ngày còn trên đất mẹ, chẳng hơn gì thời của ba chúng nhiều chục năm trước, vốn sinh ra trong một gia đình nghèo, đông con. Một chiếc lồng đèn loại rẻ tiền, mẹ mua cho đứa lớn, dặn con chơi khéo giữ, qua ngày rằm bọc lại trong bao ny lông treo cao nơi góc nhà để sang năm cho đứa em chơi tiếp. Hóa ra hai cha con có cùng… kỷ niệm!
Ngày ấy đã qua rồi! Nhưng chỉ với con tôi thôi. Riêng tôi, khoảnh khắc quá khứ đang sống lại. Tôi không hiểu sao, hai thằng con, không đứa nào vòi vĩnh mẹ nó hoặc tôi mua cho lồng đèn. Những chiếc lồng đèn thật đẹp và dễ thương, treo lủng lẳng từng dãy trong các chợ Việt. Dĩ nhiên, vì mỗi năm chỉ có một ngày Rằm Trung Thu thôi, nên tôi có thể dễ dàng mua cho con cùng lúc hai ba cái lồng đèn mà không cần phải đi mượn tiền hàng xóm như mẹ tôi ngày xưa. Hai thằng con làm sao có thể hiểu được rằng, ba chúng sẽ vui biết bao khi được chúng order: “Ba ơi ba, mua lồng đèn cho con đi rước đèn trung thu đi, ba!”…Bởi vì, mãi mãi tôi vẫn muốn chúng vẫn còn là thiếu nhi Việt Nam!
Nhớ lại những mùa Trung Thu thời niên thiếu của mình, trong tôi bỗng dậy lên bao niềm bồi hồi, xao xuyến. Những kỷ niệm đáng yêu như những làn sóng nhỏ dạt dào từ biển khơi mênh mông ký ức kéo về, thiết tha mơn trớn, ôm ấp tôi. Nhắm mắt lại, tưởng chừng chỉ mới hôm nào, tôi đã có một mùa Trung Thu…
Năm ấy, tôi mới bảy tuổi, lên lớp tư (lớp hai bây giờ). Vừa tựu trường được vài ngày, thầy giáo thông báo Trung Thu năm nay có cuộc thi làm lồng đèn. Sẽ có phát quà bánh cho tất cả các em tham dự cùng nhiều phần thưởng cho những em có lồng đèn đẹp và ý nghĩa. Ðiều kiện phải là lồng đèn làm ở nhà, dùng giấy gì dán cũng được, trừ giấy bóng kiếng giống đèn chợ. Thích thú làm sao khi được thi làm lồng đèn! Mùa Trung Thu năm ngoái, tôi có xách chiếc đèn con cá chép hóa long màu vàng chóe mẹ mua, vào trường đúng tối đêm rằm để tham dự rước đèn. Chiếc đèn đó vẫn còn. Mẹ nói năm nay nhường lại cho em chơi, con lớn rồi. Tôi đủ khôn để hiểu mẹ sẽ chẳng mua lồng đèn nào khác thay thế cho tôi. Làm sao có đèn để đi thi?… Ừ, nhưng mà thầy giáo nói chỉ có lồng đèn làm ở nhà mới được chấm thi thôi. Tôi hào hứng lẫn hí hửng, từ trường về chưa kịp cất cặp, chui ngay xuống bếp loan báo với mẹ:
– Má, trường có tổ chức thi lồng đèn tuần sau. Má làm cho con, nghe má?
– Thôi đi con! Má đâu biết làm. Ðang lui cui với củi lửa khói bếp, mẹ tôi gạt ngang.
– Nhưng mà có nhiều phần thưởng lắm đó, má. Có cả phát bánh nữa.
Tôi cố quảng cáo, phân bua.
– Dễ gì mình được. Dẹp. Ai rảnh mà làm!
Thấy mẹ từ chối xẵng giọng, tôi cụt hứng. Ðứng xớ rớ gãi đầu một chặp, thấy mẹ chẳng đoái hoài gì, tôi tiu nghỉu bỏ ra trước thềm nhà ngồi bó gối ngó mông ra khoảng vườn. Có tiếng chiêm chiếp của một con chim non bé bỏng nào đó đang gọi mẹ trong một chòm cây, nghe buồn buồn. Ðang rầu rĩ bỗng tôi cảm thấy có bàn tay ai xoa lên đầu mình. Ngoái nhìn, thì ra là ông ngoại tôi.
– Con sẽ có lồng đèn để đi thi.
– Làm sao có, ông ngoại? Tôi đứng bật dậy.
– Ngoại làm.
– Thiệt hả ngoại?
Ngoại không trả lời tôi.
– Ừa, mà sao ngoại biết có thi lồng đèn? Tôi thắc mắc.
– Thì tại con nói. Rồi mẹ con…
Ngoại ngừng ngang câu nói, nắm tay tôi chậm rãi kéo ra cuối vườn. Hai ông cháu dừng lại bên khóm trúc độc nhất trong vườn. Bóng chiều đang nghiêng xuống. Nhưng nắng vẫn còn tiếc nuối đọng lại trìu mến trên từng phiến lá tươi xanh lao xao trong gió.
Ngắm nghía một hồi, ngoại bảo tôi đứng đó, ông đi vội vào nhà. Tôi dư sức biết khóm trúc nầy là nguồn vật liệu chính để làm lồng đèn. À quên, cần câu cá nữa. Vì tôi thấy thỉnh thoảng có người trong xóm đến xin ông ngoại trúc để làm cần câu. Còn Trung Thu nào cũng có người xin về làm lồng đèn. Mỗi lần như vậy, ngoại tôi tự tay cưa, chứ không chặt trúc. Ông dùng một lưỡi cưa thép mỏng, bề bảng chỉ bằng ngón tay ông, lòn sâu vào bụi trúc để cưa. Có lần tò mò tôi hỏi: “Sao ngoại không chặt bằng dao?“ Ông đáp: “Chặt bằng dao dập trúc, còn dễ làm trầy trụa những cây khác”…
Y như rằng, ngoại đã nói là làm. Tôi thấy ngoại xăm xăm đi ra, sau vài phút, với đầy đủ đồ nghề trong tay: lưỡi cưa, con dao yếm cùng tấm thớt làm cá của mẹ. Tôi mừng khấp khởi, đứng lui ra quan sát ngoại chọn trúc. Ông ngồi thụp xuống luồn nửa cánh tay vào trong bụi trúc, bỏ hẳn mấy cây ngoài rìa, đưa lưỡi cưa xuống gần sát gốc một cây trúc có màu da thật sậm. Ông bắt đầu cưa, động tác nhẹ nhàng. Tôi ngứa miệng:
– Sao ngoại không cưa cây bên ngoài cho dễ, ngoại?
– Nó chưa đủ tuổi.
– Ủa, trúc mà cũng có tuổi nữa, hở ngoại? Tôi ngạc nhiên. Ngoại cười:
– Có chớ! Như con vậy.
– Mấy tuổi thời đủ… đủ để làm lồng đèn, ngoại?
– Hm… chừng một tuổi trở lên.
– Tại sao phải lựa trúc đủ tuổi, ngoại?
– Ừ, thì nó cho nan nhiều, cật nhiều và… bền dẻo nữa.
– Sao ngoại ngó biết tuổi trúc?
Ngoại không trả lời tiếp câu hỏi dây dưa bắt quàng của tôi nữa vì ông vừa hạ xong cây trúc thứ hai, đang mắc khom lưng lui cui lôi nó ra khỏi bụi. Trong nháy mắt ông dùng dao yếm róc hết những cành lá tủa ra hai bên ở phần thân trên của cây. Kế tiếp, ông cưa ra từng lóng hoặc hai ba lóng một để có những đoạn dài, ngắn khác nhau theo tính toán của ông. Cuối cùng, cũng bằng đôi tay khéo léo, ông chẽ tất cả đoạn trúc ra làm tư, làm sáu, làm tám gì đó… tôi tính không hết. Ðoạn, ông xếp phần nan riêng, phần cật riêng. Cái nầy cũng do ông giải thích tôi mới biết nan, cật khác nhau ra sao. Tôi thấy ông ngoại tôi thiệt giỏi. Cái gì ông cũng rành. Mọi việc ngoại tôi làm hết sức lẹ. Xong, ông dùng một đoạn ruột cật cột lại tất cả những gì đã chẻ ra từ hai cây trúc, đưa tôi ôm; còn ông, gom đồ nghề đứng lên. Tôi kinh ngạc:
– Sao ngoại không làm lồng đèn…?
– Làm rồi! Mấy thứ con ôm đó.
Tôi lúc thúc theo sau nghe ngoại giải thích trấn an.
– Trúc phải để mấy ngày sau làm lồng đèn mới tốt, con hiểu không? Khi đó nó không còn tươi nữa, làm sườn, dán giấy lên mới không bị co rút, đèn nhăn xấu. Biết chưa!
Bầu trời đã nhập nhoạng bên trên khu vườn. Sau lưng hai ông cháu, bóng đêm đang nhẹ nhàng buông màn xuống cho những chòm cây, các chậu hoa kiểng của ông ngoại chìm vào giấc ngủ.
– Ngoại ơi, ngoại đói bụng chưa? Con đói rồi.
Tôi thấy mẹ tôi đang bồng đứa em chờ nơi ngưỡng cửa.
…Ngoại nói ngoại sẽ dành trọn ngày Chủ Nhựt để làm lồng đèn cho tôi.
Kể từ hôm đó, ngày nào tôi cũng đếm lịch. Tôi biết chắc tờ lịch Chủ Nhựt là màu đỏ. Thay vì để ông ngoại gỡ mỗi tối, tôi đã xé trước, ngay mỗi chiều đi học về, bằng cách kéo chiếc ghế đẩu, trèo đứng lên. Ngày đầu tiên xé xong, chờ ngoại đi làm về, tôi đón ở cổng nói ngay: “Hôm nay lịch con xé rồi, ngoại khỏi xé nữa!” Ngoại cười xòa đưa tay vỗ nhẹ đầu tôi: “Dù con có xé trước, vẫn phải hết sáu ngày mới tới Chủ Nhựt, con ạ!”
Lúc đó tôi không hiểu ngụ ý ông ngoại muốn nói gì…
Chỉ có mấy ngày cực khổ bắc ghế trèo lên xé lịch, vậy mà tôi thấy lâu ghê là lâu. Nhưng tôi nghĩ, nếu chịu khó đều đặn xé, chắc ngày Chủ Nhật sẽ… mau tới hơn!
Ðêm Thứ Bảy đó lòng tôi nôn nao khó tả, cứ như tối giao thừa đợi Tết. Tôi dặn mẹ sáng mai đánh thức tôi dậy thật sớm để kịp ăn sáng, còn phụ ông ngoại làm lồng đèn. Mẹ xí cho tôi một cái thật dài, không hiểu tại sao. Tuy nhiên, tôi an tâm vì thấy mẹ gật đầu ra vẻ hiểu chuyện.
Buổi sáng, vừa thấy tôi sà tới, ngoại cười: “Hôm nay con phụ ngoại làm lồng đèn, nghe?” Tôi “dạ” một tiếng thật lớn, cảm thấy mình quan trọng. Ngoại uống vội tách trà trên tay. Sau đó, hai ông cháu kéo nhau ra trước hàng ba với đầy đủ vật liệu đã chuẩn bị. Nói là phụ cho oai chớ tôi chỉ ngồi xớ rớ coi ngoại làm mà thôi. Thoạt đầu, tôi thấy ông dùng những thanh nan khéo léo uốn thành những vòng tròn, dẹt dẹt như quả trứng. Kế tiếp, ông dùng những đoạn nan dài luồn qua, lách lại các vòng tròn mới làm, từ trước ra sau rồi ngược lại. Ðoạn, ông buột kết chúng lại bằng những dây cật tướt thật mỏng.
Ông tiếp tục chế những phần rời nhỏ hơn của chiếc lồng đèn mà tôi không biết nó giống hình thù gì. Mãi đến khi ông mặt trời trải bóng nắng xuống thềm, ngoại mới bắt đầu ráp nối những phần sườn chế rời lại với nhau. Lúc đó, chợt nhớ ra điều quan trọng nhứt, tôi hỏi:
– Lồng đèn hình con gì vậy, ngoại?
– Chim. Con chim bồ câu. Ông vừa trả lời vừa cầm chiếc sườn sắp hoàn tất đưa ra trước nắng ngắm nghía.
– …Nhưng, sao ngoại không làm con gì khác lại làm chim bồ câu? Tôi thắc mắc. Ngoại ngoái lại nhìn tôi:
– Ừ, thì tại con chim bồ câu nó hiền lành… Nó là chim hòa bình, con hiểu không? Hm… Còn nữa, ngoại tên Ðiểu. Ðiểu là chim. Chim đại bàng lớn nhứt trong hết thảy loài vật đó. Nhứt điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng mà, con.
Sau nầy, tôi còn thấy chữ ký tên của ngoại tôi y hình con chim. Tôi gật gù ra chiều như hiểu hết các điều ngoại cắt nghĩa. Chà! Như vậy chiếc lồng đèn ngoại làm cho tôi là hết sức ý nghĩa. Không thể có chiếc lồng đèn nào ý nghĩa hơn nó được. Chắc chắn tôi sẽ đoạt phần thưởng hạng nhứt.
Ðến gần trưa, chiếc sườn làm xong. Nhưng sao tôi thấy nó hơi… xấu! Tôi nhăn mặt. Ông ngoại hiểu ý, nói liền: “Chừng nào dán giấy xong xuôi, con sẽ thấy nó đẹp.” Ông ngoại tôi nói chắc… đúng!
Sau bữa cơm trưa mà hai ông cháu cùng ăn thật lẹ, ngoại không nghỉ trưa như thường lệ mà bắt tay ngay vào việc. Mẹ tôi cũng góp phần chế tạo chiếc lồng đèn cho tôi bằng cách… khuấy hồ cho ông dán. Mẹ cũng không quên khuấy riêng một chén có trộn đường bởi… mẹ biết tôi khoái!
Ông tôi lôi từ trên kệ một xấp giấy, không biết ông chuẩn bị từ hồi nào, loại giấy trong mờ thường dùng bao tập học trò, thời đó. Nhưng chỉ có toàn màu trắng. Tôi thắc mắc ngay:
– Sao chỉ có mỗi màu trắng vậy, ông?
– Bồ câu phải màu trắng mới đúng và có ý nghĩa, con ạ.
Một lần nữa tôi lại gục gặc đầu. Tôi tiếp tục nhìn ông tôi tỉ mỉ cắt rời từng mẫu giấy, thận trọng phết hồ dán lên chiếc sườn. Chẳng mấy chốc con chim bồ câu lồng đèn của tôi thành hình. Nhưng phải chờ đến khi ông tôi điểm xuyết các phần mắt, mỏ, chân, đuôi và cánh chim bằng loại giấy màu thủ công xong, chiếc lồng đèn sẽ được tôi mang đi thi mới thiệt là… số dzách! Ngắm nghía chiếc lồng đèn đã hoàn thành trên tay ông, nghĩ đến giây phút được gọi tên lên bục sân khấu để lãnh phần thưởng, lòng tôi sướng rơn!…
*** Cuộc thi lồng đèn được tổ chức đúng Rằm Trung Thu, buổi chiều. Mới bốn giờ sân trường đã đông nghịt. Học trò ăn mặc đẹp đẽ với đủ loại lồng đèn trên tay, màu sắc rực rỡ. Sặc sỡ như cô công bên chú rùa lù khù đang cố chen chân cùng bác cua ngang ngược với lão rồng vểnh râu ngạo nghễ; nhởn nhơ như chị bướm đang chọc tức anh mèo ngổ ngáo bám theo sau; còn tên chuột nhắt lí lắt thì cứ như cố tình trêu ghẹo ngáng chân gã gà cồ oai phong lẫm liệt, lấc cấc áp sát sau lưng… Nhưng chi chít, đông đảo nhứt vẫn là những ông sao năm góc cùng họ hàng sáu cánh chen lấn nhau, cố nhoi lên trời cao, bao vây hiếp đáp chú cuội già ngây ngô, chậm lụt trong chiếc đèn kéo quân hiếm hoi… Tất cả làm nên một khung cảnh náo nhiệt đầy xao động, phấn khởi. Lẫn trong rừng bạn học vui tươi, hớn hở với lồng đèn trăm màu ngàn vẻ trên tay đó, tâm hồn rạng rỡ của chú thiếu nhi trong tôi như cùng chắp cánh bay bổng theo cánh chim câu lồng đèn của mình lên khoảng trời xanh.
Theo sự hướng dẫn của thầy cô, học trò từng lớp xếp hàng ngay ngắn, tuần tự kéo nhau đến tập trung trên khoảng sân rộng, bên trong khuôn viên tòa tỉnh trưởng, gần trường. Ở đó, trước bậc tam cấp tòa tỉnh, đã thấy bày sẵn một dãy bàn trải khăn trắng muốt. Bên trên bàn, trước mỗi chiếc ghế dành cho ban tổ chức và giám khảo ngồi, đều có đặt những chiếc micro to như trái bắp nướng, đen đen. Ðặc biệt, thật hấp dẫn, trên suốt một dãy bàn dài tiếp nối bàn giám khảo, là từng chồng và từng chồng, không biết cơ man nào mà kể những bánh trung thu, được bọc trong giấy kiếng mờ từng hai cái một. Không biết làm sao mà ban tổ chức có nhiều đến như vậy. Chắc là để phát cho hết thảy học trò chớ làm chi!
Có tiếng của những người trong ban tổ chức nói qua máy phóng thanh. Âm thanh ồm ồm, tôi chẳng nghe được gì hết nhưng thấy không khí bỗng nhiên im lặng, bớt lao xao. Bọn học trò chúng tôi quay ngang, quay ngửa. Còn thầy cô đồng loạt rời chỗ đứng, chộn rộn. Thì ra, các thầy cô xếp hàng lên nhận số bánh phát cho lớp mình… Không khí trở lại ồn ào, có phần vui vẻ hơn trước. Ðồng hạng, học trò chúng tôi đứa nào cũng có phần bánh hai cái trong bọc giấy. Thầy dặn mang về nhà. Nhưng tôi thấy bạn tôi, lác đác có đứa mở ra lấy ăn tại chỗ. Những phần bánh làm tay chân học trò bận bịu quá sức. Có đứa làm rơi cả bánh hoặc lồng đèn xuống đất. Cũng may, không có chiếc lồng đèn nào bị cháy bởi tất cả đều không được phép đốt.
Phần phát bánh vừa xong. Bỗng, thầy giáo của tôi đến kéo tôi ra khỏi hàng với một đứa bạn cùng lớp. Thầy bảo đèn của hai đứa được thầy lựa vào chung kết. Tôi khoái chí bước theo thầy cùng thằng bạn tiến về phía dãy bàn của ban giám khảo mà tôi thấy rõ có cả thầy hiệu trưởng của trường tôi ngồi đó. Cùng lúc, lũ lượt nhiều lồng đèn của các bạn khác lớp, kể cả cánh con gái của trường nữ cũng được cử lên thi. Lần nầy thì tôi chóa mắt vì có những chiếc lồng đèn đẹp thiệt! Nhưng không biết ý nghĩa của nó ra sao? Dù sao, tôi vẫn rất tự tin ở chiếc lồng đèn đầy ý nghĩa của mình.
Bọn tôi, những đứa có đèn đẹp được tiến cử ra thi, được xếp hàng hai rồi theo lệnh của một bà giáo, từng hai đứa một, tay cầm đèn giơ cao đi ngang qua bàn các vị giám khảo. Lần lượt rồi lần lượt. Tôi và hai bạn khác, trong đó có một đứa con gái, được gọi đứng lại. Mấy chục đứa khác đều bị về chỗ. Tôi hồi hộp. Tim đập thình thịch. Người nóng ran. Biết chắc mình sắp… hạng nhứt! Tự nhiên tôi nghe âm thanh xôn xao khác thường quanh tôi và cùng khắp. Chưa hiểu gì. Bỗng thấy lá, lá từ khắp trên các cây trong sân tòa tỉnh rào rào rụng, lả tả khắp khoảng không. Rồi gió nữa. Cũng không hiểu từ đâu kéo tới, càng lúc càng mạnh, khiến những chiếc lồng đèn trong tay mọi đứa đều lắc lư, chao đảo trông vừa ngộ nghĩnh vừa mắc cười. Thoáng chốc, cả bầu trời đen sẫm rồi tối sầm lại. Cùng lúc với cảm giác nghe mát mẻ mặt mày tóc tai, tôi nghe nhiều tiếng thầy cô chung quanh: “Chuyển mưa quá! Mưa tới nơi rồi! Làm sao đây?!”… Có tiếng khác chen lẫn: “Giải tán! Giải tán! Cho học trò về thôi!” Tôi còn đang xoay ngang, xoay dọc tìm thầy, bỗng có một vị trong ban giám khảo bước nhanh đến kéo tay tôi và hai bạn bên cạnh, bước lên mấy bước. Ông nói với đứa con gái: “Lồng đèn của con được chấm hạng nhứt. Còn trò nầy, hạng nhì. Và con – ông ngó sang tôi – thì chỉ được hạng ba! Mau lãnh thưởng rồi về ngay”…
Một bà giáo già lấy phần thưởng trên bàn trao vội cho hai đứa kia và tôi. Tôi được một bọc giấy hồng điều to to, vuông vắn. Chắc là hộp bánh trung thu kèm sách vở gì đó bên trong. Lúc đó, thật tình tôi chỉ lo ngó hai chiếc lồng đèn hạng nhứt, hạng nhì. Tôi thấy tức tối. Ðáng lẽ lồng đèn hạng nhứt phải hạng ba mới đúng. Vì nó chỉ là hình bản đồ Việt Nam, nửa phần trên dán giấy đỏ, nửa phần dưới dán giấy vàng. Có gì đâu mà đẹp, mà ý nghĩa?!… Còn chiếc đèn hạng nhì… Ừa, nó đẹp thiệt! Mà ngó bộ linh thiêng nữa. Vì có hình con rồng vàng ngước mặt lên trời. Nó phải hạng nhứt! Còn con chim bồ câu của tôi thì phải hạng nhì mới công bằng!…
Tôi mãi lo tự so đo phân bì, chậm chân trở về hàng của lớp. Tức thời ngay lúc đó, đã có vài hạt mưa lác đác đâu đó. Và rồi ào lên cùng lúc. Mưa! Mưa rồi! Mưa tung tóe khắp trời… Cả rừng học trò túa ra bốn phía, còn hơn cả đàn ông vỡ tổ. Mà ông vỡ tổ ra sao tôi chưa hề từng thấy! Chỉ thấy hết thảy bạn học mình ùn ùn xô lấn nhau chạy ra cổng, chẳng cần hàng lối gì hết. Tự nhiên tôi bỗng nhanh như sóc. Nháy mắt đã ra khỏi cổng tòa tỉnh. Tiếng xôn xao kêu gọi nhau ơi ới khắp nơi. Học trò, có đứa có người nhà đến chực đón bằng xe đạp, xích lô, tắc xi… Có đứa chẳng có ai rước. Như tôi chẳng hạn. Tôi còn kịp nghe tiếng thầy tôi: “Mau mau về. Không có chạy, nghe con!”
Tôi ôm phần thưởng trước ngực bằng tay trái, tay phải cầm đèn, bước nhanh như gió trên vỉa hè. Nhưng gió của ông Trời thì đã bớt, nhường cho mưa bắt đầu nặng hạt. Ðường về nhà, đến đầu ngõ xóm, ước chừng chưa đầy cây số. Nhưng làm sao kịp. Mưa xối xả. Lỡ đã ướt. Cho ướt luôn! Tôi cắm đầu chạy, quên cả lời thầy dặn. Có một khoảnh khắc muốn dừng lại đục mưa đâu đó. Khổ nỗi hai bên đường không có nhà cửa, hàng quán gì cả. Chỉ có hai hàng cây to, cao. Tôi không dám chui vào vì nhớ lời mẹ dạy. Mưa càng lúc càng to, trắng cả đất trời. Cứ bằng cách lúc đi nhanh, lúc chạy lúp xúp, chẳng thấy mệt.
Và rồi tôi cũng về tới nhà. Mẹ đang chờ tôi trước cửa. Thấy tôi chạy ù vào, mẹ mừng rỡ ôm chầm lấy.
– Lạnh không con?
– Không, má!
Mẹ buông tôi ra. Tôi chìa ngay phần thưởng ra khoe:
– Con hạng ba. Tức quá má!…
Tôi định phân bua thêm, nhưng mẹ đã giục:
– Thôi. Ði tắm sơ rồi thay đồ lẹ lên.Cảm lạnh đó, con.
Mẹ đưa tay cầm phần thưởng của tôi, tay kia mẹ rước chiếc lồng đèn. Cả mẹ và tôi lúc nầy mới cùng ngó nó. Thảm thương cho chim bồ câu của tôi! Nó không còn ra hình thù gì nữa! Lớp giấy dán, ngoài một phần rớt đâu mất, phần còn lại cũng bị bong ra, bủn nhủn bùn nhùn, ướt nhẹp. Mẹ đặt nó xuống dựa cửa. Tội nghiệp nó quá!…
Tôi vào nhà, tắm sơ sịa rồi ra ngồi nơi ngạch cửa, bên chiếc đèn. Mưa đã tạnh. Trời bắt đầu quang đãng. Lác đác một vài đứa bạn hàng xóm cầm lồng đèn đi rểu qua rểu lại trước ngõ nhà.
Ba tôi vừa đi làm về. Trên người ông vẫn còn khoác áo mưa. Ông dựng chiếc xe đạp ướt dựa vách, tay cởi áo mưa giũ giũ. Có tiếng mẹ tôi: “Anh đi tắm rồi ăn cơm, nghe. Trời mưa, mau tối đó.” Tôi nghe tiếng chân mẹ đi về phía sau.
Trong bóng chiều chạng vạng, tôi vẫn ngồi tư lự, không buồn nhớ đến buổi cơm chiều chắc mẹ đang dọn trong nhà… Một đứa bạn cạnh nhà, với lồng đèn trong tay, đi ngang cửa ngõ thấy tôi, vội kêu xách đèn ra chơi với nó.
Tôi ủ rũ lắc đầu, bụng dạ xốn xang. Bất chợt tôi nghe có tiếng đục đẽo phát ra từ bên chái nhà. Tò mò, tôi nhổm dậy bước mấy bước thò đầu dòm. Thì ra ba tôi đang ngồi chồm hổm với chiếc búa trong tay; ông đang đục một chiếc lon sữa bò. Tôi vừa bước tới vừa hỏi: “Ba chế cái gì đó, ba? Ðể con vịn cho ba đục.” Miệng nói chưa dứt tôi đã ngồi sà ngay xuống, thò tay định nắm chiếc lon.
Trong tích tắc đó, chiếc búa từ tay ba tôi giáng xuống, không hiểu sao lại trượt đầu chiếc đục, xuống thẳng mấy ngón tay đang cầm sát mép mũi đục của ba. Ðục, búa rớt khỏi hai bàn tay ba tôi cùng một lúc… Và, máu! Tôi thấy máu tuôn ra từ mấy ngón tay ba tôi xuống chiếc lon lẫn nền đất. Tôi hốt hoảng tái người, miệng kêu rối rít: “Ba ơi! Ba có sao không ba?!”…
Tôi thấy tay phải của ba tôi bóp chặt mấy ngón tay của bàn tay trái, ý chừng để máu đừng chảy thêm. Ông nhăn mặt đứng lên. Tôi còn nhớ rất rõ mấy lời của ba tôi lúc đó: “Ba đâu có mượn con!” Tôi lúc thúc theo ba tới tủ thuốc nhỏ của gia đình trong nhà. Nhà con cái đông. Vì tính cẩn trọng phòng xa của ba nên mới có tủ thuốc đó. Ba tôi mở một chai có nước trăng trắng, dùng bông gòn gòn thấm nước ấy chà đều ngón trỏ, nơi bị vết cắt máu vẫn còn chảy. Sau đó ông bôi thuốc đỏ, đỏ lòm. Nghe động, mẹ tôi từ nhà bếp bước lên. Vừa nhìn thấy cớ sự, mẹ hiểu ngay, trách ba: “Ðã nói ăn cơm xong hãy làm. Anh cứ chiều nó!…” Tuy nói vậy nhưng mẹ vẫn tiếp tay băng ngón tay cho ba tôi.
– Con nó đâu có đòi. Còn cái nầy, tại anh sơ ý…
Vừa nói ba vừa quay ngang nhìn xuống, thật sâu vào mắt tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn ghi nhớ mãi ánh mắt của ba lúc đó. Tôi ứa nước mắt vừa vì thấy hối hận, vừa vì thấy ba đã bị đau còn binh tôi.
Với ngón tay trỏ vừa được băng cùng ngón cái bầm tím, ba tôi vẫn trở lại tiếp tục công việc. Tôi biết lỗi, không dám lại gần, chỉ đứng xa ngó. Ba đưa tay ngoắc tôi lại ngồi trước mặt ông, dặn: “Con ngồi đây coi ba làm. Nhớ không được thò tay vô, nghe con.” Tôi “dạ” nhỏ trong miệng, liếc ba.
Thật khó khăn. Nhưng cuối cùng ba tôi cũng đục xong lon sữa bò: xẻ dọc quanh thân lon từ trên xuống những đường cách khoảng nhau bằng bề ngang ngón tay đau của ba. Ông dùng tay phải đè cho cả chiếc lon hơi thụng xuống, lon phình ra để hở những khoảng trống từ các đường xẻ. Kế tiếp, ông dùng đinh đục một lỗ giữa đáy lon. Rồi ông vô nhà lấy một ống chỉ không của mẹ, loại bằng gỗ, hai đầu vành ống lớn hơn thân ống, giống như hai bánh xe. Với một cọng kẽm dài, ba luồng ngang ruột ống chỉ; một đầu bẻ ngoặt lên trên cho xuyên qua lỗ thủng của đáy lon; đầu còn lại ba cặp vào một thanh trúc dài chừng một thước để làm cái cán cầm đẩy cho ống chỉ lăn. Mấy việc sau ba làm thật mau. Xong xuôi, ba bảo tôi lấy ra một cây đèn cầy. Ba đốt và cắm vào giữa lon, chỗ sát thân cọng kẽm xuyên lên. Ba đưa tôi cầm đẩy thử chiếc lồng đèn mới chế. Thiệt là ngộ nghĩnh! Khi ống chỉ được đẩy tới hoặc kéo lui, cả chiếc lon sữa bò quay tít thò lò. Ánh sáng từ ngọn đèn cầy chui qua các khe hở của lon, hắt xuống nền nhà, lên vách lung linh, chập chờn, ngó thật vui mắt…
Thật nhiều năm về sau, cứ mỗi độ Trung Thu về, tôi vẫn hay tự tay làm lấy những chiếc lồng đèn bằng lon sữa bò cho mấy đứa em chơi. Có lần đứa em gái hỏi: “Cái lồng đèn nầy kêu bằng gì vậy, anh?” Tôi nhìn sâu vào mắt đứa em: “Ờ… Hồi xưa ba làm nó cho anh. Nó là… là Lồng Ðèn Của Ba!” Ðứa em gái khoái chí, cười như nắc nẻ: “Lồng đèn của ba! Tên nó là Lồng Ðèn Của Ba, hở anh?!”… Tôi không cười theo đứa em mà hù dọa nó: “Tránh ra coi! Ðừng làm anh đục trúng tay chảy máu đó!”…
***
Bất chợt dòng hoài niệm miên man không dứt trong tôi bị cắt đứt bởi nhiều tiếng vỗ mạnh vào cửa phòng tắm, kèm theo giọng con nít oang oang, nghe không rõ. Chắc là tiếng của thằng nhóc con tôi chớ ai vô. Nó lặp lại: “Ba ơi, ba! Mẹ nói ba tắm nhanh lên, chở con đi mua lồng đèn.”
Như có dòng điện… hai volt bất ngờ chạm đúng tâm trạng, tôi ba chân bốn cẳng quơ vội chiếc khăn tắm. Chắc mẩm vợ tôi đổi ý nên mới ban lệnh khẩn cấp như vậy. Dù sao tôi cũng cám ơn nàng đã gãi đúng vết ngứa ước ao thầm kín trong lòng tôi lúc nầy. Tôi cũng thầm thán phục, không hiểu làm sao, bằng thần giao cách cảm chăng (?), mẹ của hai thằng nhóc lại có thể đi guốc trong bụng tôi mà đáp ứng nhu cầu con tim ông xã thật đúng lúc.
Nhanh như máy. Xỏ quần, khoác áo và chỉ bằng ba đường lược, tôi chải xong đầu tóc. Hai thằng con hộ tống tôi từ cửa buồng tắm. Tôi hân hoan nắm tay hai con bước ra ngoài hành lang chung cư. Lòng thơ thới nghe hai đứa nhỏ hào hứng hội ý nhau. Ðứa thích lồng đèn con nầy, đứa khoái lồng đèn con nọ…
Ðến cầu thang tôi dừng lại, chỉ hai con nhìn lên bầu trời hướng Ðông. Giữa hai thân cây Palm hình trụ, chỉ trên chót ngọn có ít tàu lá xòe ra như pháo bông nổ, mọc nghiêng nghiêng cạnh nhau thành hình chữ V, là dĩa trăng tròn vành vạnh tỏa sáng một màu vàng óng ả lung linh đang từ từ nhô lên. Ánh trăng mơ màng huyền diệu, tha thiết làm sao!… Chỉ một giây thôi, nếu không cầm lòng được, chắc tôi đã nói với hai con: “Từ nơi xa xăm ấy, có quê nhà của mình, là Việt Nam đó! Ở đấy, xưa kia có những mùa Trung Thu thanh bình đẹp đẽ với từng đàn trẻ con rước đèn hớn hở, rộn rã cười vui, tung tăng khắp phố phường, ngõ xóm… Con có biết không?!…”
(Phoenix, Mùa Trung Thu)

















































































