Phi công Chung Tử Bửu bị bắn rớt trực thăng tại Căn Cứ Hỏa Lực 31

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Sau khi tình nguyện về Phi Đoàn 219 King Bee, Trung Úy Chung Tử Bửu có nhiều chuyến đổ quân và rước quân tại vùng biên giới và Hạ Lào. Trực thăng của ông bị địch bắn cháy gần Căn Cứ Hỏa Lực 31, nơi của Nhảy Dù đóng quân, nên ông phải đáp xuống căn cứ này. Tuy máy bay bị cháy, nhưng ông vẫn đáp an toàn. Rồi tạm trú chung với các chiến sĩ Nhảy Dù tại Căn Cứ Hỏa Lực 31.

Phi công Chung Tử Bửu. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Tham chiến tại Căn Cứ Hỏa Lực 31

Căn Cứ Hỏa Lực 31 là một đồi dài chạy theo hướng Bắc-Đông-Bắc và Nam-Tây-Nam. Bên pháo binh ở đỉnh đồi phía Đông Bắc, còn hầm của Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù là đỉnh đồi ở phía Tây Nam. Hai hầm của bên pháo binh và hầm chỉ huy lữ đoàn nằm trên hai đỉnh đồi khác nhau. Hướng Tây có đường rất dốc xuống suối, và lính dù ban đêm phải bò xuống đó lấy nước đem lên mới có đủ nước uống. Ban ngày không xuống được, vì sẽ bị địch bắn chết.

Khi Trung Úy Bửu tới hầm chỉ huy, Đại Tá Thọ bắt tay. Ông nói: “Thôi, mấy ông phi công lên đây ở với tôi.” Ông bảo các sĩ quan chỉ cho mấy phòng ngủ, cũng là hầm nhưng có đường đi thông qua, thông lại, không phải giao thông hào. Phòng ngủ là một cái hầm nhỏ nhưng ngủ được nhiều người. Trong đó, ông Bửu gặp Đại Úy Nguyễn Quốc Trụ và có cả Trung Úy Thoại bên pháo binh.

Ông Bửu gặp lại Trung Úy Giang, hoa tiêu phó của ông Giang là ông Võ Văn On. Ông Bửu thấy chân của ông On bị băng, ông Bửu hỏi, “On có sao không?” On trả lời, “Em không sao đâu trung úy, chỉ bị thương trầy nhẹ thôi.” Phi công Bửu thấy vậy cũng yên tâm. Lúc đó, cơ phi của Giang là Trung Sĩ Trần Hùng Sơn.

Ông Bửu kể: “Cơ phi của tôi là Thượng Sĩ Nguyễn Văn Em. Trần Hùng Sơn là trung sĩ mới ra trường chưa lâu và lai Ấn Độ nên nhìn là thấy Ấn Độ rõ, nước da không trắng giống người Việt, da hơi sậm màu nhưng rất đẹp trai. Hai phi hành đoàn của Phi Đoàn 219 chúng tôi ở đó là sáu người, có thêm Đại Úy Dương Tấn Nghĩa của Phi Đoàn 114 ở Nha Trang đi theo Dù làm sĩ quan liên lạc Không Quân, và có một người phụ tá cho Đại Úy Nghĩa tên là Nguyễn Văn Kiện cũng là trung sĩ. Như vậy có tất cả tám người Không Quân ở trong hầm chỉ huy của Lữ Đoàn 3 Dù.”

Trong hầm còn có Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Thiếu Tá Trần Văn Đức, Trung Tá Phạm Hy Mai, Thiếu Tá Mai Văn Hiền, Đại Úy Nguyễn Quốc Trụ, Trung Úy Đinh Đức Chính, Trung Úy Thoại, và Thiếu Úy Nguyễn Văn Long. Hầm ấy gọi là hầm hành quân đầy máy truyền tin. Đại Tá Thọ ngồi trầm tư trước cái bản đồ nhưng không làm chi được, vì đã bị bao vây chặt rồi. Lúc Trung Tá Lương dặn dò ông Bửu nếu có ai ra lên máy bay, tức là nếu mấy ông chỉ huy như ông Thọ, ông Mai, bỏ lính lại chạy thoát thân, thì cứ chở về.

Ông Bửu kể tiếp: “Ở đó chúng tôi thấy nguy hiểm nhất là không có nước uống, đồ ăn thì có gạo sấy. Vì chúng tôi ăn kham khổ quen rồi, nằm ngoài rừng buổi trưa ăn gạo sấy là chuyện bình thường không sao cả. Nhưng không có nước uống thật là nan giải, khát nước không biết lấy nước đâu ra uống. Mấy ông sĩ quan khều tôi về phòng ngủ của sĩ quan. Họ nói ở đây chúng tôi có thủ được mấy bi đông nước, nhưng mấy anh chỉ nên uống thấm giọng thôi đừng uống kiểu ừng ực. Tôi cũng biết chỉ uống thấm giọng, nhưng tôi thắc mắc bây giờ mắc đi cầu thì làm sao? Tiểu thì làm sao? Nhưng trong mấy ngày đó không mắc tiêu tiểu gì nên cũng qua.”

“Máy bay tôi bị bắn rớt vào ngày, 22 Tháng Hai. Chiều 23, Tháng Hai, 1971, tôi đang nằm bên phòng ngủ sĩ quan thì có lính vô mời các sĩ quan phi công qua để Thiếu Tá Đức gặp. Chúng tôi qua thì Thiếu Tá Đức nói, ‘Chúng tôi biết triệt xuất phi hành đoàn phải là ưu tiên một. Nhưng các anh ở đây mấy ngày nay thì các anh biết tình cảnh của chúng tôi rồi. Thương binh không di tản được, xác chết vẫn còn để nằm bó poncho. Chốc nữa sẽ có sáu chiếc slick của Mỹ vào đem các anh ra. Chúng tôi chỉ kêu gọi các anh thông cảm. Hai chiếc đầu cho thương binh đi trước, hai chiếc kế cho xác chết, còn hai chiếc cuối thì các anh sẽ lên đi về. Trước sau gì các anh cũng về thôi,’” ông Bửu cho biết thêm.

Phi Đoàn 219 vui vẻ chấp thuận đề nghị của Thiếu Tá Đức, và chuẩn bị chạy ra bãi đáp trực thăng chờ được rước đi. Khoảng hơn 5 giờ 30 chiều, hai chiếc slick (UH-1) của US Army vào đáp chở thương binh rồi cất cánh. Nhưng Phi Đoàn 219 chờ mãi vẫn không thấy bốn chiếc kế tiếp như lời Thiếu Tá Đức nói đâu cả.

Không có trực thăng rước Phi Đoàn 219 tại Căn Cứ Hỏa Lực 31

Trời tối mịt, có lính từ hầm chỉ huy ra hầm trú ẩn nơi ông Bửu và phi hành đoàn đang chờ, người lính Dù nói, “Thôi, mấy ông trở vô. Hết máy bay rồi!” Sau nầy ông Bửu mới biết là Thiếu Tá Đức lừa để các thương binh được đi tản. Thật ra hôm ấy chỉ có hai chiếc slicks vào cứu hai phi hành đoàn, không phải sáu chiếc như ông Đức nói.

Phi Đoàn 219 tại phi trường Dakto. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Ông Bửu cho biết: “Buổi tối 23 Tháng Hai, các sĩ quan Dù nghe radio đài Sài Gòn cho biết Trung Tướng Đỗ Cao Trí bị tử nạn ở Tây Ninh. Tôi nghe anh Trụ nói, ‘Vậy là tụi mình tạnh rồi!’ Chữ ‘tạnh’ của Nhảy Dù có nghĩa là xong đời. Tôi hỏi tại sao ông chết mà mình tạnh? Anh Trụ giải thích: ‘Ở Khe Sanh có ba ông trung tướng: Dư Quốc Đống, Lê Nguyên Khang, và Hoàng Xuân Lãm. Ba con cọp ngồi nhìn nhau không con nào nhường con nào hết. Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh chiến trường là người của ông Thiệu. Nhưng Hoàng Xuân Lãm là tướng không biết đánh chác gì hết, cho nên không ra lệnh được cho ông Khang và ông Đống. Ông Khang và ông Đống không thể ra lệnh cho nhau, họ cũng không phục ông Lãm.”

Cũng theo ông Bửu, ông Thiệu biết tình hình ấy nên điều Tướng Đỗ Cao Trí ra thay thế Hoàng Xuân Lãm. Vì ông Trí là đàn anh của cả ba ông kia. Tướng Trí ra sẽ thay đổi kế hoạch, chứ hiện nay, thấy rõ ràng là Mỹ… cà lơ, không hết lòng. Vì vậy ông Trí sẽ thay đổi để chỉ huy chiến trường.

Ông Bửu tâm tình: “Lúc đó tôi mới biết có uẩn khúc giữa các cấp chỉ huy. Thật ra là dân Không Quân bay cho Biệt Kích, tôi đâu biết gì về những vấn đề uẩn khúc của QLVNCH. Theo sự hiểu biết của bên Dù ở ngay trên đồi, mặc dù họ chưa biết rõ, thì họ nhận định là Tướng Trí bị Mỹ giết. Vì chúng sợ Tướng Trí ra thay đổi kế hoạch thì hỏng việc. Bên Dù nói rằng khi đánh qua Cambodia, ông Trí dứt khoát không cho Mỹ biết kế hoạch. Ông nói, ‘Cho Mỹ biết là tụi Việt Cộng biết, cho nên không cho ai biết thì mình sẽ thành công.’ Bây giờ, khi nghe ông Thiệu đem ông Trí ra, mặc dù tin tức chỉ biết đại khái, nhưng bên Nhảy Dù nhận định ngay lập tức là Mỹ giết ông Trí. Và như vậy tụi mình ‘tạnh’ rồi!”

Căn Cứ Hỏa Lực 31 trong tình trạng nguy ngập

Trong số nằm tại Căn Cứ Hỏa Lực 31 có Trung Úy Vỹ nói “Thôi, đời của mình ‘tạnh rồi,’ bây giờ phải tính đường thôi còn kiểu này ở đây không được đâu.” Nhưng tính đường thế nào đây? Đâu phải muốn rút là rút được. Sau nầy khi ra tới ngoài Bắc, Đại Tá Thọ có nhắn rằng, “Hãy nói với thằng Bửu đừng buồn tụi tôi, bởi số phận của mình vậy rồi. Tức là hôm 23 Tháng Hai, 1971, Đại Tá Thọ không tiện nói để lừa gạt Phi Đoàn 219  nên giao cho ông Đức là người nói dối khéo hơn.

Sau đó, Trung Úy Bửu ra ngoài phòng hành quân để chờ coi tin tức ở ngoài Khe Sanh như thế nào. Bỗng có telephone từ Khe Sanh gọi điện vô tuyến xin gặp ông Bửu. Đó là những người của Phi Đoàn 219, trưởng phòng hành quân và nhóm “thượng thừa” đều bay lên Khe Sanh. Họ nói “phải làm sao đem được đám thằng Bửu thằng Giang về, không thể để trong đó được.” Nhưng Sư Đoàn Dù không cho đi, và nói rằng vào trong căn cứ 31 lại rớt nữa, nguy hiểm lắm.

Ông Bửu kể tiếp: “Trong hai ngày ở đó, tôi quan sát và biết quy luật của Việt Cộng. Tôi dặn anh em phi đoàn đừng bao giờ vô đồi 31 vào ban ngày, vì ban đêm Việt Cộng ngủ nghỉ, và không bắn, không pháo kích gì hết. Nếu quyết định bay vào cứu chúng tôi thì hãy đi vào chiều tối sẽ không bị bắn. Nhớ đừng đi ban ngày. Hãy để ý hướng Đông Nam của đồi. Cây súng 12ly8 của địch nằm ở cái khe hướng Đông Nam. Cây súng bắn rớt tôi nằm ngay chỗ đó, cách đồi khoảng 1.5km. Tôi dặn dò kỹ. Thật ra vì tôi là người đi thả Biệt Kích lâu năm thường bị bắn, nên tôi biết. Còn mấy ông gunship vừa nhát gan lại vừa dở. Sáng ngày 24 khi tôi nói chuyện được với ngoài Khe Sanh thì yên tâm, vì mọi cấp chỉ huy Phi Đoàn 219 đều nóng lòng muốn cứu chúng tôi ra.”

Lúc đó, ông Bửu nghe lóm Trung Tá Phát, Nhảy Dù nói chuyện với Đại Tá Thọ. Ông Phát báo cáo với ông Thọ là, “Mấy thằng con của tôi ở phía rừng tre Đông Bắc thấy rất nhiều xe tăng của Việt Cộng. Nhiều ‘cua’ lắm.” Ông Thọ nói, “Biểu tụi nó làm thịt mấy con cua đó đi.” Ông Phát trả lời giọng rất giận, ông nói, “Nếu đại tá muốn tôi nướng cả tiểu đoàn, tôi sẽ nướng cho đại tá coi.” Ý của ông Phát là Nhảy Dù không đủ sức diệt hết xe tăng, vì không đủ súng M-72 và quân số. Nếu đánh là nó xúm lại thịt mình, cả hai đại đội sẽ bị nướng hết.

Chung Tử Bửu (thứ ba từ trái), Đại Hội Trực Thăng Toàn Cầu lần thứ IV tại Westminster, California. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp). (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Ông Bửu kể lại: “Tôi nghe ông Thọ xuống giọng, ‘Thôi! Nếu anh không muốn làm thì kéo tụi nó về chận hai ngõ lên đồi.’ Ông chỉ tọa độ trên bản đồ và nói, ‘Đây là hai đường xe tăng có thể lên được. Anh kéo tụi nó về gài mìn chận hai đường lên. Vì tụi Việt Cộng sẽ đánh mình bằng hai đường đó.’”

Theo địa thế của Căn Cứ Hỏa Lực 31 thì phía Tây xe tăng không có đường lên. Mặt Bắc không có lối cho xe tăng mặc dù dốc có phần thoai thoải, nên muốn lên đường đó thì phải vượt qua những khe, dốc mà xe tăng không thể. Chỉ ở phía Đông-Nam và phía Đông của đồi đã có sẵn một đường do Việt Cộng mở lâu rồi. Xe tăng có thể đi đường ấy và từ hướng Đông-Nam leo lên. Trung Tá Phát không dám cho hai đại đội đi diệt cả bầy xe tăng. Vì số xe thiết giáp của CSBV nhiều quá, họ không đủ sức để diệt. Không phải chỉ có thiết giáp mà còn có cả mấy trung đoàn bộ binh. Cho nên hai đại đội không thể chống cự nổi. Bên Dù xin máy bay Mỹ thả bom hoặc pháo kích vào mấy chỗ đó thì Mỹ không làm. Nó chỉ bắn ù ơ ví dầu chỗ khác thôi. [dt]

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT