Luật Sư JOHN P. LE PHONG
(Viết riêng cho Người Việt, nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của chủ tịch Trương Tấn Sang)
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Việt Nam đang rơi vào hoàn cảnh của Trung Hoa năm 1969.
Ngay trong thời gian nội chiến quốc cộng, Trung Hoa cộng sản và Liên Bang Xô Viết (Nga) – hai đồng minh và đồng chí – đã có những sự xích mích. Những xích mich và bất đồng trở nên công khai khi Khrushchev tố cáo những sai lầm và chỉ trích chính sách của Stalin trong một bài “Diễn Văn Bí Mật”. Tuy nhiên tần độ của sự xích mích chỉ giới hạn vào tuyên truyền chỉ trích lẫn nhau và một vài kèn cựa lẻ tẻ ở các vùng biên giới.
1969 là năm những xích mích trở thành nghiêm trọng: tranh dành vể biên giới ở đảo Zhenbao đưa tới chỗ Nga điều động 21 sư đoàn đến biên giới vởi Trung Hoa và chỉ ở vùng sông Ussuri mà thôi; hơn một triệu quân dọc theo biên giới Nga Hoa. Ở Thiểm Tây (Xianjing) Nga tiêu diệt nguyên một tiễu đoàn Trung Hoa chỉ trong một trận đánh. Không những như vậy, Nga còn cố thuyết phục Hoa Kỳ đồng tấn công vào các cơ sở nguyên tử của Trung Hoa. Hoa kỳ không đồng ý, dù có tài liệu cho rằng Hoa Kỳ đã thăm dò Nga đầu những năm 1960 về một sự tấn công tương tự .
Những diễn biến đó làm cho Trung Hoa thấy sự yếu kém, bị chèn ép, và quan trọng hơn nữa sự cô lập của mình; tứ đầu thọ địch. Năm 1969 đánh dấu sự thay đổi cơ bản của Trung Hoa về những suy nghĩ về chính trị và chiến lược, một sự thay đổi 180 độ: từ lập trường trong 20 năm coi Hoa Kỳ là tử thù (vì chính sách của Hoa Kỳ muốn giới hạn tiềm năng của Trung Hoa mà việc đi đêm với Nga để tìm cách hủy diệt cơ sở nguyên tử của Trung Hoa là một thí dụ, chưa kể thái độ cao ngạo của Hoa Kỳ qua việc Foster Dulles ngó chỗ khác từ chối bắt tay Chu Ân Lai), Trung Hoa muốn gấp rút thương lượng ngay với Hoa Kỳ để thiết lập bang giao. Không phải chỉ là liên hệ ngoại giao thông thường, mà, chính Mao Trạch Đông đã nói thẳng ra, là thiết lập một quan hệ “friendhip” giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ.
Mối quan hệ “friendship” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Trong ảnh: Phó thủ tướng TQ Uông Dương, Uỷ viên Quốc vụ viện TQ Dương Khiết Trì cùng Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jack Lew và Ngoại trưởng Jonh Kerry tại cuộc đối thoại về chiến lược và kinh tế Tháng Bảy năm 2013. Ảnh: Reuters
Sự hối hả và đi thẳng vào điểm chính – trái ngược với thái độ truyền thống của Trung Hoa là gián tiếp, vòng vo, ẩn dụ, đợi cho đối thủ đoán xem là mình muốn cái gì – cho thấy Trung Hoa đang ở trong một cuộc khủng hoảng trầm trọng và Mao và bộ tham mưu của ông đã nhìn thấy cái viễn tượng không những mất chế độ cộng sản mà Trung Hoa có thể bị phân tán và phân hóa như dưới thời nhà Thanh. Nói theo kiểu Hán Sở Tranh Hùng, Trung Hoa đi cầu viện Hoa Kỳ.
Để đánh đổi lại cái “American Friendship”, Trung Hoa phải có cái gì thật quí giá thật cần thiết mà Hoa Kỳ đang muốn để đánh đổi: vấn đề Đài Loan và cuộc chiến Việt Nam; Hoa Kỳ muốn bảo vệ Đài Loan và giải quyết chiến tranh Việt Nam để có thể “rút lui trong vinh dự”.
Giống như Trung Hoa vào những năm 1960s, Việt Nam đang bị chèn ép bởi Trung Hoa về tranh chấp biển đông và theo một số tài liệu thì sự lệ thuộc vào Trung Hoa của nền kinh tế Việt Nam đã đạt tới mức nguy hiểm. Nhưng những vấn đề này không phải là những khủng hoảng đưa tới thay đổi trật tự quốc tế mà Hoa Kỳ buộc lòng phải nhảy vào để làm thay đổi cục diện. Nghĩa là Việt Nam cần Hoa Kỳ nhiều hơn là Hoa Kỳ cần Việt Nam. Cho nên Việt Nam phải có một cái gì để cung hiến, một cái gì thật quý giá đối với Hoa Kỳ. Dù là cái gì, điều đó chắc chắn phải thiết yếu và nằm trong quyền lợi chiến lược ngắn hạn hoặc dài hạn của Hoa Kỳ. Sự viếng thăm của Trương Tấn Sang là cái ấn dấu quyền lực xác nhận là cái gì rất có giá trị mà Việt Nam đang cung hiến (offer) cho Hoa Kỳ để đánh đổi cái American Friendship là trung thực và Việt Nam qua chủ tịch Sang bảo đảm sự thực thi.
Giống như cuộc đàm phán Hoa Kỳ-Trung Hoa năm 1969, những vấn đề đang được thương thảo, những tương nhượng hoặc thoả thuận phải đợi một thời gian mới ra ánh sáng. Kissinger thuật lại là năm 1969, ông và Chu Ân Lai nhìn nhau ở Bắc Kinh không nói gì cả nhưng có cùng một ý nghĩ là Hà Nội sẽ nổi cơn thịnh nộ nếu biết ông ta đang ngồi ở đây.
Chủ tịch Sang thăm Hoa Kỳ trong lúc này không có gì phải làm cho Trung Hoa thịnh nộ. Nhưng những vấn đề thưong thảo hoặc thoả thuận tùy theo là vấn đề gì rất có thể. Và sự thịnh nộ của Trung Hoa, cường quốc thứ nhì trên thế giới về kinh tế và thứ ba về quân sự, không giống sự thịnh nộ của Hà Nội ngày xưa. Cái “yếu tố Trung Hoa” do đó không những là yếu tố thường hằng trong mọi cuộc thương thảo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về chính trị, quân sự và ngay cả kinh tế, mà còn là một yếu tố có tầm ảnh hưởng có thể làm thay đổi chiều hướng của cuộc thương lượng.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tại Toà Bạch Ốc, Tháng Bảy năm 2013
Ảnh: Pete Souza (nguồn: White House)
Tuy không đoán được những vấn đề gì được thương thảo giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn, chúng ta có thể đoán được là Bắc Kinh đang trải qua một cơn thịnh nộ to lớn: Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ được tiếp tại Sunnylands ở Palm Spring, tuy là một cơ sở nguy nga đồ sộ nhưng không thể so với toà Bạch Ốc nơi TT Obama đã tiếp đãi chủ tịch Trương Tấn Sang. Không những vậy Michelle Obama không tiếp bà Tập Cận Bình (Peng Liyuan) nhưng lại khoản đãi bà Sang rất nồng hậu.
Và đó là chính trị quốc tế trong tuần này.



























































































































