Tiến Sĩ Jonathan D. London
Nguyễn Khoa Thái Anh (chuyển ngữ)
LTS. Tiến Sĩ Jonathan D. London là giáo sư tại Phân Khoa Nghiên Cứu Châu Á và Quốc Tế (Department of Asian and International Studies) tại đại học The City University of Hong Kong và là thành viên cốt cán của Trung Tâm Nghiên Cứu Ðông Nam Á (Southeast Asia Research Centre).
Những cuộc bạo loạn chết người tuần trước ở Việt Nam tuy gây tổn thất đến hình ảnh và ổn định quốc gia nhưng lại là vấn đề thứ yếu so với bế tắc chính trị dai dẳng của Hà Nội. Theo Adam Fforde, một chuyên gia lâu năm về Việt Nam quan sát, cho tới thời điểm này, chúng ta còn chưa thấy “sự lãnh đạo hoặc chỉ đạo để hướng tới những nỗ lực cần thiết.” (Ðó là phân tích của một người rất thân Việt Nam). Và tôi đồng ý, Việt Nam hầu như không còn cơ hội để vượt qua cơn khủng hoảng ở Biển Ðông một cách lành lặn nếu không giải quyết được những bế tắc chính trị của mình.
Nói một cách đơn giản, bế tắc này hiện diện ở bốn nhân vật chính trị được chia thành hai (hoặc thậm chí ba) nhóm. Nhóm thứ nhất vây quanh Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, một nhân vật bị nạn tham nhũng tha hóa, lại được những tinh tú quốc doanh cũng như giới cảnh sát ủng hộ. Mặc dù có vẻ là chính khách lành nghề nhất, ông lại bị những người gièm pha đầu óc cải cách coi là chưa thực sự cải cách và không có khả năng mang lại những cải cách về thể chế cần thiết cho Việt Nam.
Nhóm thứ hai hướng về Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, và Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang. Họ là những người bảo thủ hay những người bảo vệ hiện trạng thể chế. Ở phương diện quốc nội, lòng trung thành của họ phần lớn là hướng tới nhau, tới đảng và quân đội. Ở phương diện quốc tế, lòng trung thành của họ đầu tư dài hạn vào niềm tin rằng Bắc Kinh là một “đồng chí tốt.” Có nhiều ý kiến về Trương Tấn Sang, và có ý kiến cho rằng ông có những quyền lợi cụ thể của mình.
Dù sao, vấn đề không phải là xác định một cách chính xác mà là nhìn rõ về lãnh đạo, Việt Nam đến nay đã có tình trạng bế tắc. Bế tắc này không làm tê liệt nhưng lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng vận hành của bộ máy nhà nước. Thay vì đối thoại với thế giới một cách tự tin, chúng ta lại được chào đón bằng sự im lặng kéo dài. Phiên họp toàn thể của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng gần đây mới chỉ bóng gió đề cập đến khủng hoảng này. Thảo luận trong phiên họp kín của Bộ Chính Trị vẫn chưa có gì rõ ràng.
Ðiều gì đã xảy ra vậy? Nhiều bộ phận của nhà nước đã phản ứng với thách thức một cách quyết liệt, đặc biệt là, kể cả các lực lượng bảo vệ bờ biển đã bị qua mặt và đánh bại lẫn bộ phận truyền thông nhà nước, đều được bật đèn xanh để công kích Trung Quốc và chưa hề lùi bước. Ở các lĩnh vực khác, rõ ràng nhà nước lại hạn chế khả năng hơn. Vắng bóng những đồng minh thân cận, Hà Nội đã cố gắng truyền tải sự bất mãn của mình bằng tinh thần yêu nước của công chúng. Những nỗ lực này của nhà nước, dù chưa tắt hẳn, nhưng đã suy yếu dần do những hạn chế của chế độ độc đảng.
Một trong nhiều điểm khác biệt quan trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự thảo luận chính trị cởi mở hơn của những người tiền nhiệm (mặc dù vẫn còn bị đàn áp). Ngay từ lúc cuộc khủng hoảng bắt đầu, không gian ảo ở Việt Nam đã bốc lên ngùn ngụt. Người Việt Nam ở các phe phái khác nhau đã đòi quyền biểu tình ôn hòa. Trong khi những người biểu tình đầu tiên được phép tiên phong, thì phần nào họ vẫn bị đàn áp. Thay vì quang cảnh những con phố náo nhiệt, nhà nước lên kịch bản chặt chẽ cho các cuộc “mít tinh phản đối” tại các thính phòng khác nhau để thể hiện cảm hứng yêu nước. Một số người đã bị chụp ảnh lúc đang ngủ gật.
Nỗ lực của nhà nước trong việc tổ chức công nhân biểu tình chống Trung Quốc nhanh chóng trở nên hỗn loạn. Thế nhưng, ở phương diện nào đó thì điều đó cũng chả có gì ngạc nhiên. Cho đến tận sau các cuộc bạo loạn, người Việt Nam vẫn chưa được nghe bất cứ một phát ngôn nào từ các cấp lãnh đạo. Trật tự xã hội cần sự điều phối và hợp tác chứ không phải đơn giản là mở cổng xả lũ cho những đám đông thiếu cả kinh nghiệm xã hội lẫn chính trị. Thật vô ích để dẫn đến hậu quả tồi tệ và để lại điều tiếng trên trường quốc tế như thế này.
Ðể giải quyết khủng hoảng vừa rồi, cần phải dũng cảm thực hiện từng bước. Cụ thể, cần phải tiến hành như sau:
1. Hà Nội cần phải nhanh chóng đưa ra tuyên bố. Một nguyên thủ quốc gia cần phải thực hiện điều này và cần được truyền hình trực tiếp. Chính quyền nên cân nhắc hai tuyên bố: một bằng tiếng Việt tới người dân do một nguyên thủ như Thủ Tướng Dũng chẳng hạn, một bằng tiếng Anh do một trong những quan chức cấp cao thành thạo Anh ngữ. Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hà Kim Ngọc, người có sự hiểu biết tinh tế về ngoại giao phương Tây, có thể là một ứng cử viên thích hợp. Những tuyên bố này cần giải quyết được tình huống theo cả hướng đối nội lẫn đối ngoại, cần giải thích rành mạch vị trí của Việt Nam và dự kiến giải quyết khủng hoảng thông qua các phương tiện pháp lý và ngoại giao chứ không phải bằng biện pháp vũ trang. Nếu Bắc Kinh gửi tối hậu thư trong những ngày tới, Hà Nội phải hồi đáp công khai và rõ ràng.
2. Lập tức thúc đẩy nỗ lực để phục hồi sự tín nhiệm kinh tế. Tổ chức một hội đồng bao gồm những cố vấn quốc tế tin cậy để giải quyết vấn đề của những nhà máy bị tổn thất, những người bị thương và những thử thách mà các nhà quản lý và công nhân ở các doanh nghiệp nước ngoài bị phá hoại phải đối diện. Nhanh chóng phục hồi niềm tin là vấn đề sinh tử. Công việc này phải được thực thi theo cách hơn cả cần thiết.
3. Lãnh đạo nhà nước Việt Nam và lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân dự đang phát triển của đất nước, bao gồm cả những người trong và ngoài chính phủ, cần đi tới những thảo luận về những điều khoản tham gia rộng rãi trên phương diện trách nhiệm chính trị của quốc gia đối với khủng hoảng này. Việc này cần bao gồm những quan chức chính phủ hàng đầu, đại diện nhóm Kiến Nghị 72 (một tập hợp lỏng lẻo các trí thức cải cách nổi tiếng có những những liên hệ lâu dài với đảng), và những thành viên chủ chốt đang lãnh đạo các tổ chức xã hội dân sự.
Ðó là điều hứa hẹn nhất và là chiến lược hợp lý duy nhất cho Hà Nội để giành quyền kiểm soát trên cả phương diện đối nội cũng như đạt được tinh thần đoàn kết rộng khắp cần thiết để tham gia vào trường quốc tế hiệu quả hơn. Phóng thích những tù nhân lương tâm và tạo động thái với những người Việt hải ngoại sẽ là một thông điệp về một Việt Nam thay đổi và rằng Việt Nam là một đất nước xứng đáng được quốc tế ủng hộ.
4. Việt Nam phải bước ra khỏi các đối sách chính trị và thuật hùng biện theo lối hòa cả làng. Ðất nước và khu vực không cần xung đột vũ trang, và vũ trang cần phải tránh mọi giá.
Về lâu dài, Việt Nam cần theo đuổi các giải pháp mang tính chiến lược và hòa bình trên cả kênh ngoại giao lẫn quốc phòng để Bắc Kinh thấy rằng: vi phạm luật quốc tế và không tôn trọng các quốc gia láng giềng sẽ chỉ chống lại những lợi ích lâu dài của họ. Hà Nội cần tiến tới hợp tác nghiêm túc với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với Hoa Kỳ. Cuộc thảo luận không cần phải bàn về việc kềm chế Trung Quốc nhưng cần hướng tới mục tiêu ổn định và đạt được một trật tự thịnh vượng trong khu vực.

















































































