Tôi là ai?

Nguyễn-Khoa Thái-Anh

Đã hơn nửa thế kỷ (51 năm cho chính xác) tính từ ngày thể chế VNCH kết thúc. Hơn 6.5 triệu người Việt đã chọn cuộc sống nơi xứ người. Ở Mỹ, theo dữ liệu mới nhất của Cục Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ có gần 2.5 người Việt hiện đang sinh sống. Chưa bao giờ trong lịch sử có gần 10 triệu dân Việt rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ra đi định cư ở nước ngoài. Nơi người viết tạm gọi là quê hương thứ hai hay đất lành chim đậu.

Biểu tình “No Kings” trên đại lộ Bolsa, Westminster, ngay trung tâm Little Saigon, hôm 29 Tháng Ba. (Hình minh họa: Thiện Lê/Người Việt)

Đây là một cuộc đổi đời vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt tộc. Nói rằng đa phần người Việt đã kinh qua một cuộc đổi đời to tát cũng không sai, nhưng nếu áp dụng cho mọi trường hợp cũng không hẳn đúng. Nhiều người đã xa rời quê hương và có thể ít gắn bó với Việt Nam. Chưa kể một số người khác (như thương gia hay du sinh) mà chúng ta có thể gọi là Việt kiều hay kiều bào vì đối với họ đất Mỹ là một nơi tạm dung. Việt Nam vẫn là nơi đi và trở về. Việt kiều – hoặc kiều bào – theo đúng nghĩa của nó chưa hẳn đã là người Mỹ, dù họ đã nhập tịch Mỹ hay chưa.

Còn riêng người viết định vị như thế nào trên tiến đồ di dân – Mỹ? 

Không thích gọi người mình là “Vietnamese-American” vì nghe nghe có vẻ chia cách. Trong một bài bình luận trên nhật báo Oakland Tribune vào những thập niên 1980-1990, tôi tự gọi những người Việt lịch lãm là “Vietnamericans.” (1). Ông William Wong, chủ biên của mục “op-ed” (bình luận) bảo chưa bao giờ thấy cụm từ này. Ông chỉnh sửa lại là “Vietnamese American” cho đúng tiêu chuẩn báo chí.

Khoảng 10 năm sau, trên Người Việt 2, ấn bản Anh Ngữ, tôi lý giải “Vietnamerican” là người Việt có hai chân đặt vững chãi trên cả hai nền văn hóa Việt và Mỹ, biết giao tiếp một cách trôi chảy giữa hai ngôn ngữ. Thuần thục. Tức là biết ứng xử thấu tình đạt lý, biết chọn những gì hay đẹp của cả hai phong tục, tập quán để ứng xử cho từng trường hợp – nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc. Tuy ở Mỹ, tập quán Việt Nam nhiều lúc cũng không thích hợp trong nhiều tình huống như chồng chúa vợ tôi – yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Dù ở nhà, học đường, hay ngoài xã hội, nên nhớ ở Mỹ, phụ nữ ở thế thượng tôn chứ không phải đàn ông. (2).

Giấc mơ Việt Nam 

Khi mới qua Mỹ tôi có nhiều giấc mơ cho Việt Nam. Mơ một ngày đất mẹ được tự do dân chủ, Việt Nam sẽ thật sự độc lập, thoát Trung, thoát khỏi vòng cương tỏa của bất cứ một thế lực bất chính nào để các thế hệ sau sẽ còn cơ ngơi mà tổ tiên đã để lại, toàn vẹn lãnh thổ.

Đối với nhiều người Việt Nam, theo thời gian, giấc mơ trở về Việt Nam – vốn đã in sâu trong tâm thức chúng ta – dần bị đẩy lùi sang một góc khuất. Khi chúng ta ngày càng cảm thấy hòa nhập và thoải mái hơn trong “cuộc sống mới,” nỗi khao khát quê hương ấy dường như cũng lắng xuống phần nào.

Với một số người, giấc mơ Việt Nam – dù có ngủ yên đến đâu – cũng không bao giờ tắt. Nó luôn hiện hữu, chờ đợi được choàng dậy như chim Phượng Hoàng. Nếu giấc mơ đó chết đi, người Việt có lẽ sẽ lâm chung theo. Nói cách khác, khi chúng ta không còn mơ về Việt Nam nữa, chúng ta sẽ mất hết bản sắc, cội rễ của mình. Người ta sẽ chỉ trở thành một người Mỹ gốc Á trong cái “nồi lẩu văn hóa” khổng lồ của nước Mỹ. Căn cước và hình hài không minh định được rõ ràng.

Tốt hơn thế, nếu được cộng đồng dòng chính giang tay đón nhận và vẫn được công nhận là người Việt đáng nể, chúng ta có thể được gọi một cách chính xác là “người Mỹ gốc Việt.”

Nhưng đối với những người đã trở thành công dân, hoặc đang trong quá trình nhập tịch, đây không phải là một bước tiến tự nhiên trong chuỗi sự kiện của cuộc sống Mỹ. Đây có phải là chuyện đắn đo cần xét lại, bởi lẽ việc từ bỏ quê hương không phải là điều mà người Việt nào cũng coi nhẹ.

Việc tách rời khỏi một cội nguồn đã tồn tại hàng chục nghìn năm (3) là một chuyện không dễ. Thậm chí, nỗi bất an chỉ chực chờ trỗi dậy khi đất nước Mỹ dưới thời Tổng Thống Donald Trump lúc nào cũng thiên về da trắng thượng tôn. Về chuyện ông Hùng Cao đã thực sự tự nhận mình là ai: một người Mỹ đẳng cấp – hoặc giả ông được ông Trump đón nhận ông là quyền Bộ Trưởng Hải Quân một cách thật tình và trọn vẹn hay không mới đáng kể. Nên nhớ, cha ông Hùng từng làm việc cho USAID (ở Niger, Phi Châu, 11 năm), một cơ quan mà ông Trump đã cắt viện trợ và xóa bỏ khỏi biên chế liên bang. Ông Hùng Cao cũng từng nói ông muốn có một cái nón của nhóm KKK.

Việt Nam, nơi ý thức dân tộc thấm sâu vào mạch máu, vào từng thớ thịt và tâm thức, tinh hoa gia đình và xã hội đã đong đầy trong lời mẹ ru con bằng những sự tích lịch sử không hề là một điều xa lạ. Tuy nhiên, việc tuyên thệ trung thành với một đất nước mới, nơi “lương tâm chống  đối” (conscientious objector) đôi khi được thay thế cho lòng yêu nước, nơi an ninh quốc gia đôi khi bị xâm phạm vì lợi ích của “tự do thông tin,” và việc đốt quốc kỳ được Tối Cao Pháp Viện cho phép như một hình thức tự do ngôn luận, có lẽ là điều khó xử. (Đây là tâm tư của người viết khi đương sự còn cân đo quốc tịch Mỹ).

Có những dằn vặt mà tôi phải trải qua khi quyết định liệu có nên trở thành công dân Mỹ hay cứ tiếp tục sống như một người không biên tịch, vô tổ quốc (VNCH, nơi tôi mang quốc tịch, đã bị sáp nhập thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào năm 1975, sau khi tôi sang Mỹ).

Vì cốt lõi của chính thể Hoa Kỳ đặt trọng tâm, cho phép di dân giữ nguyên bản sắc của mình trong quá trình hội nhập vào Hoa Kỳ, (cho đến khi ông Trump lên ngôi).

Sau nhiều đêm mất ngủ và hàng tháng trời trăn trở vì quyết định trở thành công dân Mỹ – đồng thời vẫn giữ nguyên cội nguồn của mình – tôi đã quyết định nộp đơn xin nhập tịch.

Ngày 1 Tháng Bảy, 1981, sau một năm rưỡi vướng mắc các thủ tục hành chính, tôi được gọi đến tuyên thệ tại một sảnh đường lớn ở Los Angeles Convention Center cùng với cả ngàn người nhập cư khác. Tất cả chúng tôi đều phải giơ tay phải lên thề trung thành với Hoa Kỳ. Một vị chánh án, đứng trên sân khấu cùng một nhóm đương đơn đại diện, đọc từng câu hỏi qua microphone.

Những thí sinh trên sân khấu trả lời to để những người trong khán giả lặp lại. Sự kiện này làm mất đi vẻ trang nghiêm do sự hiện diện của một đám đông đảo những di dân trả lời không đồng nhất.  Và nhất là sự có mặt của một phụ nữ Canada đứng bên tôi. Cô ta cứ lầm bầm chửi thề: “Like hell I will” đối với những câu như “Bạn có thề ủng hộ và bảo vệ Hiến Pháp Hoa Kỳ…” (4) Thật trớ trêu khi cô ấy xin nhập tịch một đất nước mà cô không thể chịu được.

Riêng tôi phải suy ngẫm về một số câu hỏi, đặc biệt là câu hỏi về việc võ trang để bảo vệ Hoa Kỳ chống lại mọi kẻ thù ngoại xâm hoặc nội xâm. Điều gì sẽ xảy ra nếu đó là Việt Nam? Sau đó, tôi biện luận rằng cho đến khi Việt Nam thật sự là một quốc gia do dân và vì dân thì có lẽ tôi không để lương tâm cắn rứt (conscientious objector) quá đáng.

Tôi là ai trong thời đại “Trumpism” 

Là một đứa trẻ trưởng thảnh trong cuốc chiến tranh Quốc-Cộng nồi da xáo thịt, khi đất nước bị phân chia Nam Bắc, tâm thức tôi vẫn còn âm ỉ một nỗi đau chiến chinh, chia cách của đất nước. Khi Hoa Kỳ rút lui, VNCH thất thủ, cưu mang mặc cảm một quốc gia chiến bại cũng không yên.

Ở học đường Mỹ, một ít bạn trẻ không hiểu cha anh họ đã chết hay bị thương tích trên chiến trường Việt Nam cũng gọi mình là “Cong” hay “VC” (Việt Cộng) khiến tinh thần tổn thương, con tim tủi nhục không ít. Nói chung, người Mỹ bao dung hơn những trường hợp thiểu số.

Đến nay, tôi được sống gần nửa đời người như công dân một quốc gia tưởng như quá lý tưởng. Đó là quảng đại và bao dung, tự do dân chủ, pháp lý rạch ròi, tam quyền phân lập, minh bạch nhất thế giới.

Cho đến khi có sự hiện diện của ông Donald Trump trong cuộc tranh cử năm 2015 với sự tiếp tay của Tổng Thống Vladimir Putin của Nga, mọi chuyện dần dần được phanh phui trong hồ sơ Jeffrey Epstein liên can đến bàn tay tình báo lông lá của Nga và nhiều tác nhân quốc tế (5) ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên.

Đây chính là giai đoạn bắt đầu sự lấn chiếm, phá hủy, lũng đoạn tiền đồn dân chủ do sự tiếp tay của nhóm tài phiệt 1% và phe cực hữu như Project 2025, hỗ trợ cho sự lên ngôi của ông Trump trong chính trường Hoa  Kỳ.

Đã có nhiều chuyện bất cập trong nhiệm sở của Tổng Thống Trump từ nhiệm kỳ một, đến nhiệm kỳ hai, từ cách ông chọn lựa nội các không hề dặt căn bản trên kinh nghiệm, đức độ hay tài giỏi mà trên mực trung thành và sự phục tùng ông triệt để, không khác gì chọn lựa “hồng hơn chuyên” của các chế độ Cộng Sản, khiến những người Việt như tôi phải nao núng không biết tương lai của Hoa Kỳ và đồng minh sẽ đi về đâu?

Tất nhiên, có một số không nhỏ những người Việt khác vẫn dành cho ông Trump một chỗ đứng nhất định – nếu không căn cứ trên thực tế thì cũng trong cảm tính và tim óc chủ quan của họ. Chủ đề chiến sự Iran hôm nay chỉ thuộc về bản thân người viết. Và chuyện thực tại là một cuộc chiến tốn kém chưa thấy hồi kết.

Trong khi đó, ông Trump hô hào lật đổ (regime change) chế độ thần quyền Hồi Giáo, thúc đẩy dân Iran đứng lên giành quyền tự quyết từ chính phủ Vệ Binh Cách Mạng Iran từ Tháng Sáu, 2025, nhưng tuyệt nhiên không có một sự hiện diện hay tài trợ nào của Mỹ cho phe chống đối ở Iran khiến hơn 20,000 dân Iran biểu tình phải hy sinh tánh mạng.

Đến 28 Tháng Hai, khi Mỹ không kích đánh phá Iran đã không có bất cứ một sự phê chuẩn hay hậu thuẫn chính thức nào của Quốc Hội Mỹ, trái với quy ước Mỹ và quốc tế.

Không hiểu nhiều người Việt – kể cả các thuyền nhân – phải rời bỏ quê hương nghĩ gì về cuộc chiến giữa Mỹ-Israel và Iran hiện nay? Họ có so sánh nó với cuộc chiến Nam Bắc, huynh đệ tương tàn của Việt Nam không? (Mỹ gọi là “The Vietnam War,” Hà Nội gọi là chiến tranh chống Mỹ cứu nước). Riêng trong tư duy của người viết đã nảy sinh một sự đối chiếu giữa chiến tranh cần thiết (chiến tranh có chính nghĩa) và những cuộc chiến vô luân (không chính nghĩa – Moral and Immoral wars).

Chẳng phải vì tác giả là một đứa con mà gia đình bên mẹ di cư từ Hà Nội vào Nam năm 1954 nên cho cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tìm tự do có chính nghĩa. Chuyện Mỹ tham chiến ở Việt Nam là một chuyện gây nhiều tranh cãi xốc nổi xin dành cho một dịp khác. Trên bình diện chiến tranh giữa Cộng Sản và quốc gia, chúng ta có thể xem sự tranh đấu của miền Nam là một cuộc chiến có chính nghĩa và cần thiết – dù ý chí tự do dân chủ và quyền tự quyết được nêu cao tuy bước đi không toàn hảo.

Ít ra ở Việt Nam trước khi chính thể Cộng Hòa miền Nam được thành lập (1955-1975) để đối đầu với chế độ Cộng Sản (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) thì ở miền Bắc, Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã kháng chiến chống Pháp từ 1927-1930. Ông và 12 đồng đội bị thực dân Pháp hành quyết vào Tháng Sáu, 1930 sau khi cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái bị thất bại. Trong khi đó, đảng CSVN chưa ra đời, mặt trận Việt Minh chỉ được Nguyễn Ái Quốc thành lập vào năm 1941, 24 năm trước khi Hoa kỳ tham chiến năm vào năm 1965.

Cho nên, nếu nói Mỹ gây ra chiến tranh Việt Nam thì không đúng, dù Hoa Kỳ có tác động đến chuyện leo thang chiến tranh Việt Nam bằng cách đổ quân và dội hàng ngàn tấn bom xuống Việt Nam. Chí ít miền Nam đã sở hữu một nửa giang sơn cho chuyện “regime change” – nếu như Hoa Kỳ và chính thể VNCH có thể thành công trong ước vọng giải phóng chế độ Cộng Sản ở miền Bắc (regime change) thay vì chỉ giữ vững thể chế miền Nam (như Nam Hàn).

Có lẽ cho đến cuối đời, khi hơi thở cuối cùng đã tắt, thì “tôi là ai?” mới thực sự bắt đầu được định hình, bởi chưng cõi đời vô vọng của một cá nhân vẫn cần sự hiệp thông của nhiều người và Thượng Đế, nơi mà một quốc gia tiến bộ còn trông cậy vào mức độ hiểu biết của cử tri thay vì cảm tính. [đ.d.]



(1)-Vietnamerican, một danh từ mới mà tác giả đã chọn đặt từ đầu thập niên 1980.

(2)-Tuy vậy, ngày trước ở Mỹ có một thành ngữ “the rule of thumb” có nghĩa là nếu đánh vợ thì cây roi không được mập hơn ngón tay cái.

(3)-Stephen Oppenheimer, tác giả quyển “Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia,” dùng nhiếm sắc thể và các chứng tích địa lý, nhân chủng học, DNA, và nhân tố khoa học để chứng minh các nền văn minh cổ đại của Việt Nam và Đông Nam Á hiện hữu hơn 20,000 năm đã bị các cuộc đại hồng hủy chôn vùi.

(4)-”That I will support and defend the Constitution and laws of the United States of America against all enemies, foreign and domestic; that I will bear true faith and allegiance to the same; that I will bear arms on behalf of the United States when required by the law…”

(5)-Dù bị Bộ Tư Pháp (đáng lý ra phải được độc lập với hành pháp của ông Trump) được ông bổ nhiệm đã che giấu hàng triệu trang hồ sơ của Jeffrey Epstein, kể cả bôi đen tên tuổi của những nhân vật có máu mặt trong cả ngàn trang mà họ công bố. Tuy nhiên, những bằng chứng ngoại vi song song với hồ sơ cho thấy ông Trump đã thông đồng với phe tình báo của Nga và ông Putin. Những ai theo dõi tường tận hồ sơ Epstein sẽ thấy không phải tự dưng mà một người vô danh tiểu tốt như ông Epstein lại có thể nắm giữ hết trọn ổ tài liệu mật máy triệu trang với danh tánh của bao nhiêu lãnh đạo quốc gia, các nhà tài phiệt, và giám đốc đại công ty,…


 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT