Viết về bộ phim The Vietnam War

Nguyễn Tiến Hưng

(Hình minh họa: Mark Ralston/AFP/Getty Images)

Giai đoạn khi Đồng Minh nhảy vào

Năm 1958, từ Đại Học Virginia (UVA ở Charlottesville) chúng tôi đã theo dõi cuộc chiến Việt Nam từ lúc khởi sự (thời TT Eisenhower) tới lúc Mỹ đưa quân vào (thời Kennedy) rồi leo thang thật nhanh (thời TT Johnson). Chúng tôi cũng đã xem (và tham gia) cuốn phim Cuộc Chiến Mười Ngàn Ngày (The Ten Thousand Day War) của Maclear được chiếu năm 1980. Bộ phim 26 giờ còn dài hơn phim 18 giờ của Ken Burns và Lynn Novick (B & N).

Với những kinh nghiệm cá nhân và sưu tầm nhiều năm, nhất là từ tài liệu The Pentagon Papers dài 7,000 trang, được giải mật ngày 13 Tháng Sáu 2011, chúng tôi đã viết về giai đoạn Mỹ mang quân vào Việt Nam trong cuốn sách Khi Đồng Minh Nhảy Vào (KĐMNV) với gần 900 trang gồm nhiều tài liệu gốc, xuất bản năm 2016.

Năm phần đầu bộ phim của Ken Burns và Lynn Novick (B & N) nói về cùng một thời điểm như cuốn KĐMNV (từ thập niên 40 tới cuối 1967). Cách bố cục cũng giống, nhưng với những tựa đề có kịch tính. Thí dự như tựa đề cho Tập 2: Dòng Sông Styx (The River Styx) rất hấp dẫn vì Styx là một dòng sông trong thần thoại Hy Lạp nói đến ranh giới giữa trái đất này và thế giới bên kia hay cõi chết. Nó cũng còn có ý nghĩa tương đương với địa ngục. Từ Tập 3 tới Tập 5 hầu hết chỉ chiếu lại những trận chiến lớn: An Khê, (trận đầu tiên), Plei Me, Ia Drang, Pleiku, Bình Giã, Đồi 1338, Đồi 875. Đây là những trận đã được chiếu nhiều lần trong các phim Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Cái mới là có những câu chuyện thương tâm hơn, đau đớn hơn của những người quân nhân Mỹ và gia đình của họ.

So với phim của Maclear, những hình ảnh trong phim này cũng không có gì mới lạ. Tuy nhiên nó được làm sống động hơn, rất ấn tượng nhờ áp dụng kỹ thuật mầu sắc, ca nhạc, âm thanh tân tiến cùng với nhiều cuộc phỏng vấn những người tham chiến và cách dẫn giải của các bình luận gia.

Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào hai phần đầu vì ba phần sau hầu hết là chiếu lại những trận chiến lớn như đã đề cập.

Trên mạng BBC có bài tường thuật về buổi giới thiệu cuốn phim ở Sài Gòn. Cuối phần trả lời các câu hỏi, đạo diễn Lynn Novick tóm tắt về bộ phim: “Chúng tôi muốn biết cái gì đã xảy ra ở nơi đây… mô tả thực tại, chiến tranh, chiến trường, sự chết chóc, sự hy sinh… Chúng tôi cố gắng không phán xét. Chúng tôi nói về những trải nghiệm tối tăm nhất trong cuộc đời nhân vật. Chúng tôi cố gắng trung thực với những bi kịch, kể câu chuyện từ nhiều phía, và tìm cách thể hiện rất nhiều trải nghiệm của người Việt Nam trong cuộc chiến.”

Hai nhà làm phim B & N cho rằng, khác với vô số tài liệu và phim ảnh về cuộc chiến đã có trước đây chỉ trình bày những gì người Mỹ làm, hay những chiến trận hay đau khổ của người Mỹ (như phim Apocalypse Now hay Platoon), phim THE VIETNAM WAR sẽ cho cử tọa biết thêm nhiều về những biến cố, những câu chuyện về thân phận cá nhân xẩy ra cho người Việt Nam, được kể lại trong các cuộc phỏng vấn từ mọi phía, với các tham dự viên người Việt ở cả hai phía Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam.

Dù đã có một chiến lược tiếp cận rất hay và đầy tính cách con người, bộ phim có nhiều khuyết điểm. Sau đây là những thí dụ:

-Hai nhà đạo diễn B & N nói là “không phán xét” nhưng thực ra là có phán xét một cách thầm kín. Thí dụ như đoạn phim Mỹ chiến đấu trong những năm 1966-1967 được lồng vào đoạn phim hình ảnh trong cuộc chiến khốc liệt của Pháp trong thập niên 40-50. Như vậy là coi người lính Mỹ cũng giống như người lính Pháp: áp bức, tàn bạo? Và rồi Mỹ cũng sẽ lặp lại những sai lầm của thực dân Pháp?

Phim phán xét về TT Ngô Đình Diệm: “Ông là con người tàn nhẫn, không tin ai ngoài gia đình, lanh lợi, tháo vát, biết khai thác những yếu điểm của đối phương.” Rồi gán cho ông một biệt hiệu: “Đấng cứu thế không có thông điệp.”

Phán xét này ngược hẳn với đánh giá của tờ New York Times năm 1957, gọi ông Diệm là “một người giải phóng Á Châu,” hay tuần báo Life: “Con người cứng rắn và như phép lạ của Việt Nam,” hay Nghị Sĩ Jacob Javits (tiểu bang New York): “Ông là một trong những anh hùng của thế giới tự do,” hay Nghị Sĩ Mike Mansfield (Montana): “Công trạng ngăn chận được xâm lăng của Cộng Sản ở Việt Nam, và vì vậy ở cả Đông Nam Á, là do sự quyết tâm, can đảm, trong sạch và chính trực của Tổng Thống Diệm, một người đã chứng tỏ khả năng rất cao trước những khó khăn thật là to lớn.” Năm 1961, Phó Tổng Thống Johnson đi xa hơn, gọi ông Diệm là “Winston Churchchil của Đông Nam Á.”

-Phim muốn kể câu chuyện từ nhiều phía… rất nhiều trải nghiệm của người Việt Nam trong cuộc chiến nhưng đã phỏng vấn rất ít người từ phía VNCH, mà cuộc chiến xảy ra căn bản là ở Miền Nam Việt Nam. Thời giờ dành cho những người này cũng rất vắn vỏi, coi như chỉ qua loa để gọi là có phỏng vấn. Đâu là những hình ảnh và câu chuyện của những người quân nhân anh dũng của VNCH? Đâu là những hình ảnh vợ con của họ sống trong cảnh khó khăn, cô đơn ở thôn quê Miền Nam, chờ mãi không thấy chồng về?

-Về phía các bình luận gia thì Neil Sheehan (ký giả thiên tả, cực lực chống đối chinh phủ VNCH) là một trong những diễn giả chính của phim. Không thấy có phỏng vấn những tác giả thuộc thành phần xét lại như Mark Moyar, Lewis Sorley.

Một sai sót lớn: phim đã khai thác khá dài về Trận Ấp Bắc (1/1963) dựa trên cuốn A Bright Shining Lie (Lời Nói Dối Sáng Ngời) của Neil Sheehan, đổ lỗi cho người chỉ huy quân đội VNCH và ca tụng ông Paul Vann hết lời. Tác giả Moyar đã thuật lại chi tiết trận đánh, địa hình địa vật, và quân số hai bên, cũng như diễn tiến trận đánh, để đi đến nhận xét rất rõ ràng về những dối trá của Paul Vann khi ông cung cấp thông tin về trận này cho Sheehan (KDMNV, trang 470-472).

-Phim không đề cập tới một thực tại quan trọng ở Việt Nam trong thập niên 40, đó là sự hình thành của Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN).

Đâu là câu chuyện Đại Sứ Nhật Yokohama đến gặp Hoàng đế Bảo Đại để chuyển giao nền độc lập sau khi lật đổ Pháp (11/3/1945): “Tâu hoàng thượng, đêm hôm qua chúng tôi đã chấm dứt chủ quyền của Pháp quốc trên đất nước này. Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền độc lập của Việt Nam cho hoàng thượng.” Có nghĩa là trao độc lập của toàn thể lãnh thổ gồm cả các hải đảo mà Nhật đã chiếm như Hoàng Sa, Trường Sa. Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Tới lúc ký Hiệp Định Geneva chia đôi lãnh thổ thì chính phủ QGVN đã được 35 quốc gia công nhận. Sau Geneva, chính phủ VNCH tiếp nối QGVN. Hiệp Định Geneva có Trung Quốc ký vào, như vậy là TQ đã công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam. Đây là một sự kiện quan trọng giúp cho Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp hiện nay ở Biển Đông.

-Phim cũng không nói đến bức thư đầu tiên của lãnh đạo Việt Nam, Hoàng Đế Bảo Đại gửi TT Truman ngày 18 Tháng Tám 1945? Nhật vừa trả độc lập, HĐ Bảo Đại đã viết ngay cho TT Truman yêu cầu Pháp phải tôn trọng nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và trả lại độc lập cho Việt Nam: “Thưa tổng thống, chế độ thuộc địa không còn thích hợp với chiều hướng lịch sử hiện tại… Nước Pháp phải vui lòng nhìn nhận điều đó để tránh khỏi thảm họa chiến tranh trên đất nước chúng tôi.” (KĐMNV, trang 35). Cùng ngày, ông gửi một tâm thư cho Tướng de Gaulle: “Nếu các ngài trở lại… mỗi làng xóm sẽ trở nên một tổ kháng chiến, mỗi người bạn sẽ trở nên một kẻ thù.”

-Về phía chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, phim có nói tới một bức thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh (với chữ ký của ông) gửi TT Truman yêu cầu Mỹ ngăn chận Pháp trở lại và ủng hộ nền độc lập Việt Nam (bản chụp bức thư: xem KĐMNV, trang 709-710). Thực ra là có tất cả tới 14 văn thư và công hàm của ông Hồ gửi Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao Mỹ, yêu cầu ủng hộ nền độc lập và cứu trợ nạn đói đang hoành hành khắp mền Bắc. Về bức thư được trích dẫn, người bình luận trong phim (Leslie Gelb) nói rằng thư này không tới tay Tổng Thống Truman (có thể với hàm ý là vì vậy cho nên ông Truman không trả lời). Điều này là không đúng, vì trong 14 văn thư và công hàm được tóm tắt trong Phụ Lục cuốn KĐMNV (trang 704-721) có một văn kiện (ngày 17/10/1945) do chính telex của tòa Bạch Ốc in lại.

(Hình minh họa: Andrew Caballero-Reynolds/AFP/Getty Images)

Trong cuốn KĐMNV, chúng tôi có viết: “Như vậy là cả hai phía Việt Minh và Quốc Gia đều cầu cứu Mỹ ngăn chận Pháp trở lại Việt Nam. Thời gian đó, nạn đói lại đang hoành hành ở miền Trung và miền Bắc, chết từ 1.5 tới 2 triệu người. Xem như vậy, ta có thể đặt ra một câu hỏi: nếu như lúc ấy Mỹ đáp ứng yêu cầu của cả hai phe phái Việt Nam để ngăn chận Pháp và đặc biệt là cứu trợ nạn đói 1945 thì lịch sử đã ra như thế nào? Liệu có Vietnam War hay không? Mỹ có thể dễ dàng mở một Tòa Lãnh Sự ở Việt Nam để xử dụng số gạo thặng dư quá nhiều của mình để cứu vớt gần 17% dân số Việt nam trong cảnh đói rét. Trong trường hợp ấy toàn dân Việt Nam sẽ hoan hô Mỹ, và Pháp đã không thể trở lại.

-Đến thời chính phủ VNCH, cuốn phim nhận định không đúng về việc Mỹ ủng hộ ông Diệm từ ban đầu. Một bình luận gia nói (hình như Leslie Gelb): “Chúng tôi muốn giúp xây dựng một chính phủ hợp pháp. Chúng tôi tin vào ông Diệm – hay cũng là nạn nhân của ông ta.” Đây là nhắc lại bình luận của giới truyền thông thiên tả mà chúng tôi đã thường nghe/xem trong những năm 1958-1963. Bây giờ, sau trên nửa thế kỷ, với bao nhiêu nghiên cứu mới, giải mật, thông tin mới mà phim vẫn còn “kể lại cho trung thực” kiểu này thì làm sao ta hiểu nổi? Sự thật là ngay từ ban đầu Mỹ đã không tin vào ông Diệm (xem KĐMNV, Chương 10-11). Sau đây là những gì đã xảy ra:

-Tháng Bảy 1954, ông Diệm chấp chính, thành lập chính phủ;

-Tháng Tám 1954, Đại Sứ Mỹ Donald Heath đề nghị về Washington: “Ta phải để ý theo dõi tìm một lãnh đạo khác;”

-Tháng Mười Hai 1954: Tướng Collins, đặc ủy của TT Eisenhower đề nghị “Mỹ chỉ nên ủng hộ ông Diệm thêm vài ba tuần nữa thôi.”

-Đầu Tháng Tư 1955: Tướng Collins đề nghị rõ ràng về 5 bước để loại bỏ ông Diệm.

-Cuối Tháng Tư 1955: Washington gửi chỉ thị tối mật: thay thế Thủ Tướng Diệm.

Như vậy là chỉ nội trong 10 tháng chấp chính, Mỹ đã muốn lật đổ Thủ Tướng Diệm.

Phim cũng không nói đến các thành quả kinh tế, xã hội mà phía VNCH đã gặt hái như “5-Năm Vàng Son 1955-1960” (KĐMNV, Chương 13). Về hành chánh đã có các cán bộ được huấn luyện chu đáo trong hai thập kỷ bởi Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, chẳng thua gì Ecole Nationale D’Administration của Pháp (nơi xản xuất các lãnh đạo Pháp), các đại học Luật khoa, Y khoa, nơi sản xuất ra các luật sư, thẩm phán biết đẩy mạnh truyền thống pháp trị /rule of law và các bác sĩ làm việc trong các bệnh viện thay thế bác sĩ Pháp. Miền Nam Việt Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của chính Nam Hàn dưới thời TT Phác Chính Hy. 

Tại sao có chiến tranh Việt Nam – “WHY VIETNAM WAR?”

-Phim lấy tên là Vietnam War mà lại không chiếu hình ảnh và phỏng vấn về “tại sao có chiến tranh Việt Nam – Why Vietnam War?” Đây là thiếu sót rất quan trọng. Thí dụ như TV không thể chỉ chiếu và dẫn giải về cảnh tàn phá, hoang tàn ở Houston và Florida mới đây mà không chiếu và dẫn giải về lộ trình và tốc độ của con mắt đỏ Harvey và Irma, lồng lộn xoáy vào từ ngoài đại dương.

-Phim nói mập mờ cho rằng chiến tranh Việt Nam đã leo thang từng bước vì những tính toán sai lầm của các lãnh đạo kế tiếp nhau ở Washington. Sự thực là 5 tổng thống (Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon) đã tính toán rất kỹ về quyền lợi của Mỹ như đã được chứng minh rõ ràng trong cuốn KĐMNV. Tất cả có tới 7 quyền lợi mà Mỹ muốn bảo vệ ở Biển Đông, mà Việt Nam là “địa điểm chiến lược quan trọng nhất” như Tổng Tham Mưu Mỹ đã xác định (KĐMNV, Chương 3).

-Vietnam War thực sự bắt đầu khi TT Kennedy mang quân chiến đấu vào Việt Nam. Phim không nói sự thực về động cơ nào đã đưa ông Kennedy tới quyết định ấy. Lý do đưa quân tác chiến vào không phải là để “bảo vệ tự do của nhân dân Miền Nam” mà là vì hai cú sốc. Thứ nhất, ngày đăng quang, ông tuyên bố “Chúng tôi sẽ trả bất cứ giá nào, xốc vác bất cứ gáng nặng nào… để bảo đảm sự sống còn và sự thành công của tự do.” Nhưng vừa tuyên bố như vậy thì phải chịu hai cái thất bại liên tục, một ở Lào và một ở Cuba. Ông tâm sự: “Tôi không thể chấp nhận cái thất bại thứ ba,” cho nên ông tập trung vào Việt Nam. Thứ hai, mùa Hè 1961 ông bị một cú sốc mạnh khi Lãnh đạo Liên Xô Nilkita Khrushchev thách thức ông tại cuộc họp thượng đỉnh Vienna: “Tôi muốn hòa bình, nhưng nếu ông muốn chiến tranh thì đó là vấn đề của ông.”

Trở về Washington, TT Kennedy tâm sự với James Reston, trạm trưởng của tờ New York Times tại Washington và là bạn ông Kennedy: “Ông ta đối xử với tôi như một cậu bé con… Ông ta nghĩ rằng vụ Vịnh Con Heo chứng tỏ là tôi thiếu kinh nghiệm. Có thể ông ta còn nghĩ là tôi ngu nữa. Và có thể quan trọng nhất, ông ta nghĩ tôi không có gan.”

Cho nên Kennedy đã quyết định phản ứng, chọn Việt Nam làm nơi đọ sức với Liên Xô. Lúc ấy Khrushchev đang thay đổi chiến lược: chuyển từ trực tiếp đối mặt với Mỹ sang gián tiếp, từ chiến tranh quy ước tới chiến tranh du kích. Kennedy quyết định: “Việt Nam là đúng chỗ rồi.” Ông đôn quân vào Miền Nam. 

TT Diệm không đồng ý cho Mỹ mang quân vào

Sau quyết định ấy, cái gì đã xảy ra tại Saigon thì phim Vietnam War đã bỏ qua hoàn toàn. Đây là điểm lịch sử cần phải được làm sáng tỏ: Mỹ mang quân vào trái với ý muốn của TT Diệm. Muốn trung thực thì bắt buộc phải chiếu hình ảnh và phỏng vấn về điểm này. TT Diệm chỉ yêu cầu – vì chống Cộng là quyền lợi hỗ tương của cả hai nước – Hoa Kỳ yểm trợ phương tiện vật chất, hoặc là hai bên đi tới một hiệp ước quốc phòng song phương thay vì mang quân đội Mỹ vào.

Sau cùng Mỹ phải tìm hai cớ để đôn quân vào. Chúng tôi đã nghiên cứu thật kỹ và viết lại cho rõ ràng trong cuốn KĐMNV (Chương 15-16):

-Lấy cớ huấn luyện quân đội Miền Nam: Tổng tham mưu Mỹ đề nghị “Để thuyết phục ông Diệm thì hay nhất là lấy cớ đem quân ‘vào để huấn luyện’, rồi đem một đơn vị chiến đấu quân vào đóng ở Việt Nam với công tác là giúp thiết lập hai doanh trại huấn luyện.”

-Lấy cớ “cứu trợ lũ lụt”: Tướng McGarr, Chỉ huy trưởng cơ quan viện trở quân sự MAAG gửi một công điện về Ngũ Giác Đài: “Trận lụt rất nặng ở Đồng Bằng Cửu Long… nặng nhất kể từ 1937 cho thấy ta có thể dùng việc cứu trợ lũ lụt để biện hộ cho việc mang quân vào làm công việc nhân đạo, để rồi có thể giữ quân đội này lại nếu muốn.”

Chẳng bao lâu, cố vấn, quân nhân, CIA, ký giả thiên tả Mỹ tràn lan khắp nơi. Trong cuốn sách A Death in November, tác giả Ellen Hammer kể lại: có lần TT Diệm phàn nàn với Đại sứ Pháp Lalouette: “Tôi không bao giờ yêu cầu những người quân nhân này tới đây. Họ cũng chẳng có cả hộ chiếu nữa.”

-Phim không nói tới sự kiện là trước bối cảnh đó, TT Diệm ngỏ ý muốn Mỹ rút bớt cố vấn đi. Đại Sứ Pháp Lalouette cho rằng “lý do chính đưa tới quyết định của Mỹ loại bỏ ông Diệm là vì vào Tháng Tư năm ấy (1963), ông đã toan tính yêu cầu Mỹ rút cố vấn.”

TT Diệm nhìn thấy chân trời tím, muốn tìm giải pháp hòa bình. Qua Cố Vấn Ngô Đình Nhu, ông đã sắp xếp để điều đình về hiệp thương với miền Bắc, rồi từng bước tiến tới thống nhất trong hòa bình. Thời điểm ấy, miền Bắc đang gặp khủng hoảng về lương thực trầm trọng. Theo người môi giới giữa hai bên là ĐS Balan là ông Maneli (trong phái đoàn kiểm soát đình chiến), thì chính phủ miền Bắc sau cả năm suy nghĩ đã đồng ý để hợp tác với TT Diệm và Mỹ để đi bước này.

Nhưng ĐS Lodge, rồi Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor báo cáo cho TT Kennedy: “Sự ve vãn của ông Nhu với ý định điều đình (với Hà Nội) – cho dù là nghiêm chỉnh hay không đi nữa – cũng đã cho thấy có sự bất tương phùng căn bản đối với những mục tiêu của Hoa Kỳ.”

-Về bối cảnh đảo chính, phim chỉ chiếu cảnh Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu, thanh niên biểu tình, không nói gì về vai trò của các ký giả thiên tả (như Sheehan, Halberstam, Brown, Sully) và quan chức Mỹ (Harryman, Hillsman, Forrestal, Ball) nhất là Đại Sứ Henry Cabot Lodge (chúng tôi gọi là Đao phủ Henry I) đã đưa tới đảo chính và sát hại TT Diệm.

Biến cố này là điểm ngoặt, dẫn đến xáo trộn và khủng hoảng chính trị ở Miền Nam trong hai năm tiếp theo. Trước viễn tượng Miền Nam bị sụp đổ, TT Johnson mang đại quân vào để yểm trợ. Cuộc chiến leo thang rất nhanh từ đó, và thương vong, chết chóc cũng tăng lên rất nhanh từ đó.

Bộ phim có nhiều thiếu sót và sai sót. Thiếu sót quan trọng nhất trong phần đầu là không đề cập tới trách nhiệm của Mỹ trong cuộc đảo chính và hạ sát TT Diệm. Nếu như thay vì đảo chính, Mỹ ủng hộ sáng kiến và đồng hành với TT Diệm để tìm giải pháp hòa bình thì liệu VIETNAM WAR có xảy ra hay không? Biểu tình nửa triệu người có xảy ra hay không?

Không đề cập tới những gì đã xảy ra tại Dinh Gia Long, những bi kịch, hậu quả của những quyết định của TT Kennedy (như đem quân vào, đảo chính TT Diệm) thì làm sao đạo diễn Novick có thể nói rằng: “Chúng tôi muốn biết cái gì đã xảy ra ở nơi đây… mô tả thực tại… trung thực với những bi kịch, kể câu chuyện từ nhiều phía, và tìm cách thể hiện rất nhiều trải nghiệm của người Việt Nam trong cuộc chiến?”

Hy vọng rằng trong 5 phần còn lại được bắt đầu chiếu từ ngày 24 Tháng Chín cuốn phim sẽ đi sâu hơn, cân đối hơn, chính xác hơn, và công bằng hơn.

Hãy trả lại cho César những gì thuộc về César.

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 27 tháng 9 năm 2017

Bài liên quan

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

  • Tony Nanny

    Không nên hy vọng những phần còn lại của bộ phim sẽ khá hơn. Chỉ lược sơ qua những trailers của bộ phim đã thấy chẳng có gì hấp dẫn và mới mẽ, toàn là “bổn cũ soạn lại” và bị chi phối rất lớn bởi bộ máy cầm quyền VN vì sự kiểm soát và kiểm duyệt của họ trong những phần nghiên cứu, tìm hiểu, phỏng vấn ở VN. Rất tiếc là bộ sách “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” không được dịch ra nhiều ngoại ngữ và phổ biến rộng rãi để cống hiến thêm một góc nhìn về chiến tranh VN mới mẽ và trung thực hơn, để những người làm phim về chiến tranh VN có thể tham khảọ và sửa chỉnh.

Góc Nhìn Siêu Cường

Sau Thế Chiến Thứ Nhì, 5 nước siêu cường: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp; 5 nước đó có quyền phủ quyết tại tổ chức Liên Hiệp Quốc.

‘Tư bản đỏ’ thao túng mọi chính sách ở Việt Nam

Giới “tư bản đỏ” mới chỉ hình thành vài ba chục năm nay, sau khi đảng CSVN tuyên bố “đổi mới” kể từ 1986, nhưng giờ đây đã thao túng, lũng đoạn mọi chính sách của nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam.

Thượng đỉnh Mỹ-Triều có tan vỡ?

KCNA lên án cuộc tập trận giữa không quân Hàn Quốc và Mỹ là “diễn tập xâm lược” và là “hành vi quân sự cố ý khiêu khích” giữa thời điểm mối quan hệ Hàn-Triều đang cải thiện.

Hội Nghị Trung Ương 7 và dấu hỏi Đinh Thế Huynh

Hội Nghị Trung Ương 7 của đảng Cộng Sản Việt Nam đã trôi qua êm đềm vào đầu Tháng Năm năm 2018 mà không có sự xáo trộn lớn trong “tứ trụ.”

Bầu cho người nào?

Việc tranh cử tại khu 7 thật đáng buồn vì đa số quý vị bên ngoài phê phán chụp mũ tàn nhẫn. Xin cùng nghe lại câu thơ cũ. Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn, muôn đời sau để hận cho dòng sông.

Điện Trời

Toàn bộ 5 thành viên của California Energy Commission đã đồng thanh biểu quyết chấp thuận kế hoạch ĐIỆN TRỜI, trong một thời gian ngắn kỷ lục.

Mẹ Têrêsa

Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi còn tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa).

600 cán bộ chiến lược nặn ra từ khuôn mẫu giáo điều

Với 600 quan chức hủ lậu, như 600 robot theo mô hình các thế kỷ cũ, toàn đồ cổ mốc meo, tư duy già nua, đất nước sẽ đi vào thời kỳ mạt vận.

Mì lạnh Bình Nhưỡng

Với tôi, món mì lạnh Bình Nhưỡng gợi lại một kỷ niệm về chuyến đi Nam Hàn lần đầu, năm 1966 hay 67 gì đó, trong phái đoàn báo chí Việt Nam Cộng Hòa được chính phủ Nam Hàn mời.

Vụ ‘mất bản đồ Thủ Thiêm’ sẽ dẫn đến một đại án quốc gia?

Ngay vào lúc này, nếu ông Trọng muốn mở điệp vụ “truy tìm tấm bản đồ thất lạc,” thì có nghĩa là nhắm trực tiếp vào trách nhiệm của Lê Thanh Hải - cựu chủ tịch và cũng là cựu bí thư TP.HCM.