Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
LTS. Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng Ðông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại (714) 531-8229 hoặc email: danghao@sbcglobal. net.
Do sự tăng nhanh lớp biểu bì gấp 10 lần bình thường và do chu kỳ da từ tăng trưởng đến thoái hóa chỉ có 4 ngày, một thời gian quá ngắn, không đủ để lớp da ngoài tự hủy. Ðây là lý do làm lớp da dầy cộm, vừa long ra là có lớp khác xuất hiện tức khắc.
Tùy vào chủng tộc, sắc dân da trắng có khuynh hướng nhiễm bệnh cao hơn, trong khi dân da đen và da vàng sống trong vùng nhiệt đới, tỷ lệ ít hơn.
Bệnh có tính cách di truyền, thường tỷ lệ mắc bệnh cao hơn trong dòng tộc đã có mắc bệnh vẩy nến.
Bệnh vẩy nến thường hay chẩn đoán lầm với những bệnh ngoài da như: chàm, lở. Nhưng vẩy nến là một bệnh do sự mất quân bình của hệ miễn nhiễm. Vẩy nến có thể xẩy ra ở bất cứ tuổi nào, và bất cứ vùng nào trên cơ thể, nhiều trường hợp trở nên mãn tính và nặng hơn các bệnh ngoài da khác.
Y khoa Ðông phương định bệnh này do phong tà từ bên ngoài xâm nhập vào biểu bì, phối hợp với nội nhiệt, lâu ngày huyết ngưng trệ, không thể nuôi dưỡng lớp ngoại bì, nên sinh bệnh. Bệnh mãn tính thường hay tái phát vào mùa lạnh.
Triệu chứng lâm sàng:
Da có những đốm tròn, ửng đỏ lúc đầu, một thời gian sau phát triển thành những mảng to và dầy, mầu trắng bạc. Vì vậy gọi là bệnh vẩy nến.
Bệnh thường xuất hiện ở khuỷu tay, cánh tay, sau vành tai, da đầu, lưng, chân và đầu gối.
Bệnh nặng gập môi trường xấu sẽ gây căng thẳng thần kinh, dị ứng một số thực phẩm và đôi khi đau nhức những khớp xương.
Bệnh cấp tính
Da đỏ, nóng rát, ngứa, lở loét, thường ở khuỷu tay, chân và đầu. Nếu không chữa trị kịp thời sẽ phát triển, càng ngày càng nhiều, làm thành từng mảng da dầy và lan thành nhiều chỗ trên cơ thể.
Toa thuốc
– Sinh địa 12 grs
– Ngưu bàng tử 9 grs
– Thổ phục linh 9 grs
– Xà xàng tử 9 grs
– Ðịa phụ tử 9 grs
– Liên kiều 9 grs
– Kim ngân hoa 9 grs
– Hạ khô thảo 9 grs
– Hoàng bá 9 grs
– Mộc thông 9 grs
– Bạch tiền bì 9grs
– Khổ sâm 6 grs
– Xa tiền tử 9 grs
– Nhân trần 9 grs
– Bạch hoa xà thiên thảo 16 grs
– Bán chỉ liên 12 grs
– Milk thristle 9 grs
– Cam thảo 3 grs
Sinh địa, mộc thông, xa tiền tử: Thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu độc, giảm sưng.
Thổ phục linh, hoàng bá: Trừ thấp.
Ngưu bàng tử, địa phụ tử, xà xàng tử, bạch hoa xà thiên thảo, bán chỉ liên: Tiêu độc, thanh nhiệt, trị sưng, ngứa.
Kim ngân hoa, liên kiều, hạ khô thảo: Tăng cường chức năng gan, giải độc, trị ngứa.
Nhân trần, khổ sâm, bạch tiền bì: Lợi tiểu, thư giãn thần kinh, bổ gan.
Milk Thristle: Là một loại dược thảo quí của Châu Âu, Úc Châu và Mỹ Châu, dùng để bảo vệ tế bào gan, kích thích sinh sản tế bào gan mới, tẩy độc, kháng siêu vi khuẩn viêm gan, trị xơ gan, sưng gan, yếu gan. Trong bệnh vẩy nến, Milk Thristle có tác dụng tăng cường hệ thống miễn nhiễm, bại độc và chống ngứa.
Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.
Bệnh mãn tính
Da dầy từng mảng, đóng vẩy, ngứa khô, ít loét, thường xuất hiện ở những vùng trong cơ thể đã đề cập trên.
Toa thuốc
– Thục địa 14 grs
– Sinh địa 9 grs
– Thương truật 9 grs
– Kinh giới 9 grs
– Ðương qui 9 grs
– Bạch truật 9 grs
– Phòng phong 9 grs
– Ðịa phụ tử 9 grs
– Khổ sâm: 6 grs
– Bạch tật lê 9 grs
– Bạch tiền bì 9 grs
– Thuyền thoái 9 grs
– Kim ngân hoa 9 grs
– Bồ công anh 9 grs
– Milk thristle 9 grs
– Cam thảo 3 grs
Thục địa, sinh địa, đương quy: Bổ huyết, lương huyết.
Thương truật, bạch truật: Bổ tỳ khí, tiêu thấp.
Phòng phong: Giải phong và ngứa.
Tuyền thoái, kim ngân hoa, địa phủ tử, khổ sâm, bạch tật lê, bạch tiền bì: Trị ngứa, bại độc, thư giãn thần kinh, thanh nhiệt, lợi tiểu.
Bồ công anh (Dandelion) thuộc họ cúc, các nước Âu Châu dùng rễ bồ công anh là vị thuốc bổ đắng, tẩy và lọc độc trong máu. Lá bồ công anh ăn như rau xà lách và làm thuốc cùng một công dụng như rễ. Y khoa Ðông phương dùng bồ công anh giải độc, thanh nhiệt, lương huyết, tán kết, lợi tiểu, dùng trong các bệnh mụn nhọt, sưng tấy, tiểu tiện khó khăn.
Thành phần hóa học: Vitamine A, B1, B2, B6, B12, C, E, protein, resin, sulfur, zinc, phosphorus, biotin, calcium, folic acid, iron, magnesium, niacin.
Y khoa Ðông phương phân biệt có sáu loại khí trong con người:
Tiên thiên khí, hậu tiên khí, tôn khí, vinh khí, vệ khí và tạng phủ khí.
Như vậy Y khoa Ðông phương đã nhìn thấy sự hoạt động của cơ thể qua những loại khí trên.
Bệnh vẩy nến do phong tà từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, phối hợp với nội nhiệt mà gây ra bệnh vẩy nến, trong khi Tây y qui về sự mất quân bình hệ miễn nhiễm mà gây ra.
Ðông y đề cập tới vệ khí, là khí lành mạnh trong thức ăn, tính nó nhanh nhẹn, chạy đi khắp cơ thể, cho nên vệ khí bắt nguồn từ tỳ vị, nhưng do thượng tiêu phân bố đi ở ngoài biểu bì, sưởi ấm vùng ngực bụng, để ôn dưỡng cho ngũ tạng, lục phủ, cơ nhục, da dẻ mà điều lý việc mở, đóng lỗ chân lông. Vệ khí không những ôn dưỡng được tất cả các chức năng tạng phủ, trong ngoài, mà còn có công năng bảo vệ tầng cơ biểu chống đỡ ngoại tà.
Một khi vệ khí yếu thì chúng ta dễ bị thụ bệnh, mà y khoa ngày nay gọi là hệ miễn nhiễm.
Nhìn những vị thuốc trong các thang thuốc trị bệnh vẩy nến, chúng luôn thấy những vị thuốc bổ khí như bạch truật và bổ huyết như thục địa, đương quy là một vị được coi như nữ hoàng của các vị thuốc, để tăng cường khí huyết và đồng thời có những vị khác tăng cường chức năng cho những tạng phủ, thanh nhiệt, hóa thấp, bại độc, dưỡng gan, v.v…
Một khi vệ khí mạnh, hay nói khác đi hệ miễn nhiễm mạnh sẽ tự điều chỉnh cơ thể và bệnh tật tự nhiên rút đi là như vậy.
Rõ ràng cùng một vấn đề, nhưng dùng những từ ngữ khác nhau và chữa trị khác nhau, nhưng thành quả cuối cùng là một.





















































































