Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
Ðịnh nghĩa “Ho là tiếng nổ bộc phát thình lình bởi lực khí đẩy qua thanh môn, do tác nhân cơ học hay hóa học kích thích khí quản hoặc phế quản hoặc do cấu trúc từ các cấu trúc lân cận.”
Theo Y khoa Ðông phương “ho là một trong những chứng bệnh hàng đầu được cập nhật trong những y văn cổ truyền, nhưng tỉ mỉ nhất vẫn là sách Nội Kinh. Theo Nội Kinh, ho do phế, vì phế chủ khí mà sinh ra tiếng, nên khị phát bệnh có chỗ khác nhau, và được phân thành nhiều nguyên nhân để phân biệt mà chữa trị.”
-Ho có tiếng mà không đờm là “Khái,” bởi phế đã tổn thương.
-Ho không tiếng mà có đờm là”Thấu,” bởi tỳ thấp mà sinh ra đờm.
-Ho có tiếng và có đờm là”Khái thấu,” vì phế khí tổn thương và tỳ thấp động.
-Ho ban đêm nhiều hơn ban ngày thường do thận âm suy, sinh uất nhiệt ở phế.
-Ho do đờm là khi ho có tiếng khò khè, khạc được ra đờm thì hết ho.
-Ho có tiếng mà ít đờm, mặt đỏ lừ, là do hỏa uất.
-Ho khan là do hỏa uất nặng, nhiệt nung trong phổi, là chứng khó trị.
Như chúng ta đã biết, ho có nhiều nguyên nhân tác động. Nhưng Y khoa Ðông phương qui về hai nguyên nhân chính là, do ngoại cảm và do nội thương.
-Ngoại cảm do phong, hàn, táo, nhiệt xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp, hay lỗ chân lông làm bế tắc phế khí. Hễ tắc thì sinh uất mà sinh ra ho đàm.
-Nội thương y khoa hiện đại gọi là viêm phế quản mãn tính. Chủ yếu do phế âm hư hay tỳ khí suy mà sinh ra đờm gây ho.
Ðể trả lời câu hỏi của độc giả gửi email tới tôi, nội dung nguyên văn như sau:
“Xin BS cho đăng báo Người Việt toa thuốc trị “khó thở” dành cho người già old men or old women dùm nhé! ASAP!!! Thanks. Ho Thanh Nguu.”
Thưa ông Ngưu, như tôi đã trình bày trên, ho do nhiều nguyên nhân tác thành. Ðều do ngoại cảm và do nội thương.
Theo như ông trình bày, tôi nghĩ ho này do nội thương sinh ra và những người lớn tuổi cũng có nhiều cơ hội bị khó thở hay thở hụt hơi và ho nhiều hơn.
Như chúng ta đã biết, các tạng phủ trong cơ thể có liên hệ mật thiết với nhau, mà trong đó thận đóng vai trò chính.
Thận cũng có phần âm và phần dương. Cho nên chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về thận dương suy và thận âm suy ảnh hương trong ngũ hành tương sinh và tương khắc với phế mà gây ra phế bị suy theo mà gây thận bất nạp khí, khó thở và ho.
1. Thận khí suy làm phế khí suy gây khó thở và ho
Phế còn thông điều thủy đạo, và túc giáng: Nếu phế mất khả năng túc giáng sự thay đổi cũ mới của thủy dịch sẽ gây ra trở ngại, thì thủy dịch sẽ dồn lại, tiểu tiện sẽ không thông, lâu ngày sẽ sinh ra phù thũng. Phế chủ về khí, cho nên lỗ chân lông cũng gọi là “khí môn.” Người bệnh phế khí hư có thể gây ra khó thở, suyễn và da lông cũng thường bị hư yếu, hay ra mồ hôi còn dễ bị cảm khi thời tiết đổi từ nóng sang lạnh, hay đổi từ Thu sang Ðông là như vậy.
Một khi thận dương suy, ảnh hưởng tới phế khí suy gây ra thận bất nạp khí. Bệnh nhân thở hụt hơi, có nghĩa hít vào ngắn hơn thờ ra, suyễn, đau phần dưới lưng, sợ lạnh, sắc mặt đen sậm, tinh thần mệt mỏi, hay sợ sệt.
Ðể chữa bệnh này dĩ nhiên chúng ta phải dùng bài Bát Vị Ðịa Hoàng thang (coi kỳ trước).
Gia:
-Hoàng kỳ 9 grs, bạch truật 9 grs, phục linh 9 grs, ngũ vị tử 9 grs: Bổ phế khí và tỳ khí.
-Tử tô tử 9 grs, mạch môn đông 9 grs, bán hạ 9 grs: Giáng phế khí, bổ phế, tiêu đàm và ngưng ho.
-Ích trí nhân 9 grs: Bổ thận và tỳ khí.
Bài thuốc này giúp cho thận và phế ấm lại, người bệnh cảm thấy phấn chấn ra, hết ho, hết sợ lạnh, sợ gió, hơi thở trở lại bình thường, bớt đi tiểu nhiều lần và nhất là khi ho nước tiểu không bị rỉ ra nhất là đối với phụ nữ. Lý do thận khí suy là cơ vòng bị nhão ra không đàn hồi theo như ý mình muốn, vì vậy phải bổ thận khí.
2. Thận âm suy làm phế âm suy gây khó thở và ho
Theo Ðông y Lý dương phải giáng xuống chân và âm phải thăng lên trên đầu, có nghĩa là phần trên mặt chúng ta cảm thấy mát và phần dưới cảm thấy ấm thì vô bệnh.
Vì thận âm suy, theo ngũ hành, thận thuộc hành thủy và phế thuộc hành kim. Cũng theo ngũ hành phế là mẹ của thận.
Thận âm suy làm phế suy theo, về chiều cảm thấy mỏi mệt hơn buổi sáng, càng về đêm hư hỏa càng gia tăng, làm phế nóng và khô gây ra khó thở và ho. Những người mắc bệnh ho đã lâu mà ít đàm, nhất định không thể qui trách do “tỳ thấp sinh đàm” mà chính vì thận âm gây hỏa bốc lên mà thành đàm vàng và có khi ho từng cơn, làm tức ngực khó thở hay thở hụt hơi, miệng khô, ngủ không ngon, tiểu đêm nhiều lần, da khô, chân lạnh. Mạch phù sác hay vi sác. Lưỡi khô, đỏ và không rêu lưỡi.
Bài thuốc
Sơn thù du 9 grs
Mẫu đơn bì 9 grs
Phục linh 9 grs
Trạch tả 9 grs
Hoài sơn 9 grs
Thục địa 18 grs
-Thục địa bổ thận và gia tăng lượng huyết, giảm đau.
-Sơn thù du làm ấm gan và giúp tăng cường sức mạnh cho thận.
-Mẫu đơn bì giúp thanh nhiệt và giảm huyết nóng.
-Sơn dược nuôi tỳ và tăng cường thận.
-Phục linh gia tăng tiểu tiện, giảm sưng, giảm thấp nhiệt trong tỳ.
-Trạch tả vừa giúp lợi tiểu, giảm ù tai, mắt bớt khô và mờ.
Mục đích của bài này bổ thận âm, phế âm, thanh nhiệt và giúp cho thận nạp được phế khí, giải quyết được hụt hơi và ho.
Gia:
Mạch môn đông 9 grs, thiên môn đông 9grs, tì bà diệp 9grs, bán hạ 9grs: Bổ phế âm và tiêu đàm.
Quế bì 6 grs: Dẫn hỏa qui nguyên giúp chân ấm và phần trên cơ thể mát, trong đó có phế, và giảm ho.
Nếu đầy hơi có thể thêm chỉ thực 9 grs, hương phụ 9grs, đại phúc bì 9grs.





















































































