Quan niệm máu trong Ðông y

 


 


Bác Sĩ Ðặng Trần Hào


 


LTS. Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng Ðông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại: (714) 531-8229 hoặc email: [email protected].


 


Danh từ máu dùng trong YKÐP không giống như quan niệm của Tây y, mặc dù được gọi là huyết dịch đỏ, nhưng tính chất và vai trò của nó không giống như máu.


Sự hoạt động chính của máu là di chuyển trong toàn thân, nuôi dưỡng, bảo dưỡng và tươi nhuận nhiều thành phần trong cơ thể. Nhiệm vụ chính của máu đi, không những qua mạch máu, mà còn qua những kinh lạc. YKÐP phương không có phân định rõ ràng giữa mạch máu và kinh lạc. Người Trung Hoa ít khi lưu tâm tới vị trí của những tạng phụ – mà nói bao tử khí “đi lên” hay máu” di chuyển,” người ta cũng ít khi khẳng định rõ ràng đường di chuyển của máu trong cơ thể và nơi đến. Ðường di chuyển này ít quan trọng đối với chức nặng của chúng.


Cái khuynh hướng chữa trị không phải là chống lại, hay dập tắt một cách quyết liệt như khi cháy, chúng ta dùng nước để dập tắt ngọn lửa mà Tây Y thường áp dụng. Theo y lý YKÐP là quân bình lại âm dương, tùy theo, suy thì bổ, mà dư thì tả, giúp tạng phụ thụ bệnh trở lại bình thường, lúc đó tất cà những vi khuẩn, vi trùng không còn khoảng trống để nương thân mà phải tự tiêu diệt và người bệnh bình phục. Quan niệm máu, huyết dịch chỉ là âm và khí là dương như những bài trước chúng ta đã bàn tới. Coi cơ thể là một ông thầy thuốc hay nhất và hoàn hảo nhất để đẩy lùi mọi bệnh tật. Người thầy thuốc Ðông Y chỉ có nhiệm vụ giúp đỡ những gì dư thừa thì lấy đi hay thiếu hụt thì thêm vào để cơ thể tự điều chỉnh và đẩy lui bệnh tật.


Cho nên, quí vị thấy có một số người bị ung thư tới giai đoạn chót, dùng thuốc Ðông y để bổ cho quân bình lại âm dương, rồi cơ thể tự điều chỉnh lại mà hết bệnh là như vậy. Nhưng Tây y khi thấy những trường hợp này xẩy ra thì chỉ cười, mà cho như là một phép mầu nhiệm, chứ ít khi lưu tâm tìm tòi và khảo cứu, vì họ được huấn luyện theo chủ nghĩa độc tôn!!!


 


Nguồn gốc của máu


 


Nguồn gốc của máu do sự chuyển hóa của thức ăn, Sau khi bao tử nhận và tiêu hóa đồ ăn, tỳ (lá lách) phân tách và biến hóa thành chất bổ tinh khiết. Rồi tỳ khí chuyển hóa những chất này lên phổi. Trong khi chuyển hóa lên trên, các khí bắt đầu chuyển những chất cần thiết thành máu. Sự chuyển hóa hoàn hảo khi chất bổ tinh khiết tới phổi, nơi đây đồ ăn đã chuyển hóa phối hợp với thanh khí từ bên ngoài vào và cuối cùng tạo thành máu. Và máu được phân phối đi toàn cơ thể là nhờ vào tâm khí phối hợp với bể khí ở ngực.


 


Sự liên quan của máu


 


Ba tạng trong cơ thể đặc biệt liên quan với máu là tim, gan và tỳ. Máu phụ thuộc vào tim có nhiệm vụ điều hòa nhịp nhàng, liên tục và luân lưu trong cơ thể. Cho nên nói “tim là chủ huyết mạch,” mạch do mạch máu lưu hành, tim với huyết mạch liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong khi thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, tuy tim và huyết mạch có hợp tác với nhau, nhưng làm nên tác dụng chủ động vẫn là tim. Vì thế huyết có công năng dinh dưỡng, những vẫn phải nhờ vào sự hoạt động của tim mạch. Mầu sắc biến đổi ở mặt có thể biết được sự thịnh suy, hư thực của ba thứ tim, huyết và mạch, điều này giúp phần nào cho sự chẩn bệnh trong lâm sàng.


Cơ thể con người cần ít máu khi ít hoạt động hay nghỉ ngơi, lúc này máu sẽ chuyển về gan và tồn trữ ở trong đó. Gan tàng huyết khác với tim chủ về huyết.


Sự hoạt động của các cơ phận trong cơ thể cần vào sự dinh dưỡng của huyết dịch, lượng lưu thông của huyết dịch thường tùy thuộc vào sự làm việc, nghỉ ngơi, động tĩnh, nên có sự thay đổi. Khi vận động nhiều thì lượng lưu thông của huyết dịch cần phải tăng thêm, khi nghỉ ngơi thì lượng lưu thông huyết dịch bớt đi. Công năng điều tiết lượng huyết như vậy là nhờ vào gan. Cho nên trong sách Tố Vấn nói: “Người ta ngủ thì huyết trở về gan.” Nếu gan mất chức năng tàng huyết thì sẽ xuất hiện chứng ngủ không yên.


Cuối cùng máu phụ thuộc vào tỳ khí, vì tỳ quan hệ chặt chẽ với huyết, không những sinh ra huyết mà còn có nhiệm vụ thống nhiếp huyết dịch. Tỳ khí mạnh khỏe mới có thề duy trì được sự vận hành của huyết dịch mà không bị tràn ra ngoài. Nếu tỳ khí hư suy, mất chức năng thống nhiếp huyết dịch, thì huyết dịch sẽ chẩy tràn ra ngoài mạch, tùy theo tạng phủ nào yếu, hay những phần cơ thể nào yếu mà xuất hiện các chứng xuất huyết khác nhau. Chúng ta thường thấy những người bị ung thu gan, hay chai gan tới thời kỳ cuối cùng, thường bị xuất huyết mà không có cách nào làm ngưng lại được và phải chấp nhận theo định mệnh là như vậy.


Máu và khí thường có sự khác biệt với nhau, nhưng hỗ trợ và ràng buộc vời nhau. Khí tạo ra, di chuyển máu, giữa máu trong mạch máu và tạng phủ. Còn máu thì nuôi dưỡng tạng phủ và điều hòa khí. Ðây là sự liên hệ mật thiết giữa âm (máu) và dương (khí). YKÐP nhấn mạnh tới hai sự liên hệ chính giữa khí và huyết: “Khí là điều hòa máu, máu là mẹ của khí. “


 


Sự mất hài hòa của máu


 


Có hai tính chất làm mất sự hài hòa của máu; máu suy và máu bị đặc hay đông lại.


-Máu suy thường xẩy ra toàn thân, đặc biệt là ngũ tạng, lục phủ và những phần trong cơ thể là do không đủ chất bổ dưỡng đề nuôi máu. Khi máu suy xẩy có dấu hiệu như người xanh xao, chóng mặt, da khô, nám mặt, mất ngủ, đau nhức tứ chi, người mệt mỏi, làm việc dễ bị mệt.


Khi ảnh hưởng tới lục phủ, ngũ tạng như tim chẳng hạn sẽ đưa tới hồi hộp, tim đập nhanh hơn. Ảnh hưởng tới gan sẽ gây ra mất ngũ, vì gan không đủ huyết đề tàng trữ vào đêm khi chúng ta nghỉ ngơi.


-Máu bị đặc hay đông sẽ làm tắc nghẽn và không di chuyển bình thường. Khi tình trạng này xẩy ra, người ta thường cảm thấy đau như dao đâm, không sao chịu nổi, đứng ngồi không yên. Sự đau nhiều hay ít tùy thuộc vào sự nghẹt. Nếu tạng tim bị ảnh hưởng có thể đưa tới nhồi máu cơ tim, tim bị đột quỵ. Nếu bị nhẹ như tôi thường gặp tại phòng mạch như; đau ở phía sau lưng trên, nơi với tay chéo qua không tới, vị trí này thuộc đường đi của kinh gan, từ đốt xương sống thứ bẩy (T7) đi ra, nơi này hay bị vì chúng ta hay giận hờn, bực tức, lo nghĩ quá độ làm gan khí uất kết, đưa tới không đưa được huyết di chuyển bình thường và làm nghẹt huyệt tại nơi này, bệnh nhân đôi khi cảm thấy đau như dùi đâm, đứng không ngay được, đau rất khó chịu. Nếu chỉ bị nghẹt, sau khi châm cứu lần đầu ra là hoàn toàn trở lại bình thường. Còn trường hợp máu bị đông thì phải uống thuốc cho loãng máu. Khi máu đông cũng còn gây ra những bướu, những khối u đặc hay nước trong thận, tử cung hoặc sưng tạng phủ như sưng gan, v.v…

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT