Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
LTS. Bác Sĩ Ðặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Ðông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm cứu và Ðông dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Ðông dược và muốn góp ý cho kho tàng Ðông dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ tại điện thoại (714) 531-8229 hoặc email [email protected].
Hậu quả của tắt kinh
Phần lớn, phụ nữ vào khoảng 45-55 tuổi có thể thấy sự thay đổi như; kinh bất thường, chóng mặt, ù tai, hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ, hay bực bội, lo sợ, hốt hoảng, mặt bị phừng nóng, ra mồ hôi, buồn bã, tính tình thay đổi bất thường, không giữ được nước tiểu, viêm, ngứa và khô âm đạo, v.v… nguyên nhân do sự biến chuyển của buồng trứng. Trong điều kiện này gọi là thời kỳ hết kinh.
Thời kỳ hết kinh không phải là một bệnh, mà coi như một cơ thể bình thường của phụ nữ đang thay đổi trạng thái của buồng trứng theo qui luật của tạo hóa.
Rất nhiều phụ nữ không có sự xáo trộn trong trong thời kỳ thay đổi khoảng 2 tới 5 năm này.
Chỉ những phụ nữ có những triệu chứng trong thời kỳ này mới cần tới trị liệu và săn sóc.
Theo Y Khoa Ðông Phương, những triệu chứng xẩy ra trong thời kỳ mãn kinh và hết kinh là do thận giảm sinh tinh, điều hành sự sinh tử, sự sinh sản và sự phát triển cơ thể con người.
Theo chu kỳ: Sanh-trưởng-thu-tàn, phụ nữ vào khoảng 50 tuổi thận khí suy, thận tinh cạn kiệt, thận mất quân bình về âm dương. Thận coi như ông vua trong cơ thể, khi thận mất quân bình, làm cơ thể mất quân bình. Thân âm suy đưa tới hư hỏa vượng, can dương thượng nghịch, máu suy, tâm huyết suy, thận dương suy không giúp ôn bổ cho tỳ vị, gây ra ăn uống không kiện toàn tiêu hóa và sình trướng, đầy hơi. Nguyên nhân tắt kinh do thân suy liên quan tới tim, gan và tỳ.
Thận âm suy gây hư hỏa (xem những kỳ trước).
Ảnh hưởng tâm thận bất giao
Triệu chứng trong lâm sàng: bứt rứt, bực bội, tim đập nhanh, hồi hộp, mất ngủ, ngủ không yên giấc, hay quên, không tập trung được dù là không lâu, đau và ê ẩm đau vùng thắt lưng, đau đầu gối, nóng gan bàn tay, gan bàn chân, ra mồ hôi đêm, mặt phừng, miệng khô. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch vi và sác. Thận âm suy là nguyên nhân âm không đưa lên trên được để bắt tay với tâm, gây tâm hỏa vượng, làm tâm bất an.
Toa thuốc
– Sinh địa 12 grs
– Ðan sâm 10 grs
– Ðương quy 10 grs
– Bá tử nhân 10 grs
-Viễn chí 9 grs
– Ngũ vị tử 9 grs
– Sâm Hoa Kỳ 9 grs
– Phục linh 12 grs
-Thiên môn đông 10 grs
– Huyền sâm 10 grs
Sinh địa, đương quy: Bổ thận âm, và thanh hỏa.
Ðan sâm, bá tử nhân, viễn chí, huyền sâm:Bổ tâm, an thần và thanh tâm nhiệt.
Ngũ vị tử, sâm hoa kỳ, phục linh: Bổ tâm bà tỳ khí.
Thiên môn đông: Bổ phế âm.
Ảnh hưởng thận và tỳ khí
Triệu chứng trong lâm sàng: Lạnh thân thể, mệt mỏi, sợ lạnh, đau, rêm đau, lạnh thắt lưng, phù thũng, không giữa được nước tiêu, kinh kỳ bất thường, phân lỏng hay chẩy. Lưỡi trắng nhợt, rêu lưỡi trắng. Mạch trì và yếu.
Nguyên do vì thận dương suy đưa tới không ôn bổ được tỳ, gây ra tiêu hóa không ổn định.
Toa thuốc
– Phụ tử chế 6grs
– Quế bì 6 6grs
– Lộc giác giao 10 6grs
– Sinh địa 10 6grs
– Hoài sơn 10 6grs
– Câu kỷ tử 10 6grs
– Ðỗ trọng 10 6grs
Phụ tử, quế bì: Ôn bổ thận dương và tỳ khí.
Lộc giác giao: Bổ máu và ngưng hành kinh kéo dài.
Sinh địa: Bổ máu, điều hòa kinh nguyệt trong thời kỳ tắt kinh.
Hoài sơn: Bổ tỳ, phế khí, ngưng đi tiểu nhiều lần, khô miệng, đại tiện lỏng và đại tiện chẩy mãn tính.
Câu kỷ tử: Ôn nóng trung tiêu, giúp tiêu hóa kiện toàn, tán hàn và ngưng đau.
Ðỗ trọng: Bổ thận và gan, tăng cường gân cốt.
Ảnh hưởng tâm và tỳ
Triệu chứng trong lâm sàng: Hay quên, hồi hộp, mất ngủ, ngủ hay mơ màng, phừng nóng phần trên cơ thể, ăn không ngon, bụng hay đầy trướng, đại tiện lỏng. Mặt xanh và hốc hác. Lưỡi trắng lợt, rêu lưỡi trắng mịn. Mạch vi và yếu.
Vì thận dương suy không thể ôn bổ được tỳ vị. Tỳ không tạo được khí và huyết cần thiết cho cơ thề. Thận tinh suy yếu không sản xuất đủ tinh, tủy và máu, tim không đủ máu nuôi dưỡng đưa tới suy tim, hồi hộp.
Toa thuốc
– Sâm hoa kỳ 9 grs
– Hoàng kỳ 10 grs
– Bạch truật 10 grs
– Cam thảo(sao mật) 6 grs
– Ðương quy 10 grs
– Long nhãn 10 grs
– Phục thần 12 grs
– Can khương 3 lát
Sâm hoa kỳ, hoàng kỳ, bạch truật, cam thảo: Bổ thận khí và tỳ khí, giúp kiện toàn tiêu hóa, sinh huyết.
Ðương quy: Bổ huyết và thông huyết.
Phục thần, long nhãn: An tâm, giúp ngủ ngon.
Can khương: Ôn bổ tỳ vị.
Ảnh hưởng gan và tỳ
Triệu chứng trong lâm sàng: Ðầy tức giang sườn, tức ngực, đầy hơi, dễ bực bội, đánh hơi, lợm giọng, lười ăn, tinh thần chán nản, đại tiện lúc lỏng, lúc bón. Lưỡi thường tím với rêu lưỡi trơn và dính. Mạch huyền và hoạt.
Vì bực bội làm hại gan khí và làm gan khí không thông. Gan thuộc hành mộc tương khắc với hành thổ (tỳ). Làm tỳ suy yếu không chuyển hóa tân dịch được kiên toàn gây ra đờm nhớt.
Toa thuốc
– Sài hồ 9 grs
– Hương phụ 6 grs
– Ðại phúc bì 9 grs
– Phục linh 12 grs
– Ðương quy 9 grs
– Bạch truật 9 grs
– Chi tử 9 grs
– Cam thảo (sao mật)
Sài hồ: Ðiều hòa khí tại bụng, ngực và hai bên giang sườn.
Hương phụ, đại phúc bì: Tản khí và giáng khí tại trung tiêu.
Ðương quy:Bổ huyết và thông huyết.
Phục linh, bạch truật: Bổ tỳ và chuyển hóa thức ăn.
Chi tử: Thanh gan hỏa.
Riêng với kinh nghiện của tôi qua quá trình chữa trị và điều chỉnh phụ nữ trong tình trạng thay đổi buồng trứng cần phải thời gian khoảng vài tháng.Tôi thường nói với họ, thời kỳ tắt kinh không phải là một bệnh, mà là thay đổi bình thường theo qui luật của tiểu vũ trụ; Sinh-trưởng-thu-tàn.
Quí phụ nữ cứ yên tâm, sau một thời gian cơ thể sẽ điều chỉnh và trở lại bình thương, tâm thần trở lại an lạc và vui hưởng tuổi trời.





















































































