Tuyết Vân
VĨNH LONG, Việt Nam (NV) – Trong thời phong kiến Việt Nam có rất nhiều Văn Miếu thờ Khổng Tử và chư Nho, tôn vinh sự học. Hiện nay còn lại nguyên vẹn hay dấu tích khoảng 10 ngôi văn miếu, chẳng hạn Quốc Tử Giám Thăng Long, Quốc Tử Giám Huế, Trấn Biên, Diên Khánh… Tuy nhiên, độc đáo nhất về lịch sử hình thành, mô hình kiến trúc và nội hàm văn hóa chính là Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, ngôi miếu trẻ nhất, nguyên vẹn nhất.

Hầu hết các Văn Miếu đều được thành lập theo chỉ dụ, tài lực của triều đình. Trên vùng đất mới Nam Kỳ, ngay trong thời kỳ mở cõi khẩn hoang, Chúa Nguyễn đã sớm ý thức định hình văn hóa.
Năm Ất Mùi (1715), Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Trấn Thủ Nguyễn Phan Long và Ký Lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn Miếu Trấn Biên tại thôn Tân Lai, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) bên cạnh văn miếu là trường Tỉnh Học. Trước khi lên ngôi năm 1802, mỗi năm đích thân Nguyễn Vương hai lần cúng tế tại đây.
Trong triều Nguyễn, Văn Miếu được đổi tên thành Văn Thánh Miếu. Năm 1824, Vua Minh Mạng cho xây Văn Thánh Miếu Gia Định tại thôn Phú Mỹ, huyện Bình Dương (khu du lịch Văn Thánh, Sài Gòn ngày nay). Theo mô thức chung, hai miếu này để thờ Khổng Tử và hoằng dương Nho học.
Miếu của lòng dân!
Sau khi chiếm ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ, năm 1861 thực dân Pháp đã dỡ bỏ cả Văn Miếu Trấn Biên lẫn Văn Thánh Miếu Gia Định. Năm 1864, sau khi đàm phán đòi lại được tỉnh Vĩnh Long, Kinh Lược Đại Thần Phan Thanh Giản chủ trì đề xướng, Đề Học Nguyễn Thông trực tiếp huy động đóng góp của quan chức cựu trào cùng sĩ phu và nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên xây Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.
Có thể nói, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long là ngôi miếu duy nhất do người dân quyên góp tạo lập, không có chủ trương cũng như sự tài trợ của triều đình. Kiến trúc lúc đầu chỉ là cột gỗ mái lá đơn sơ nhưng cũng có đất đai rộng rãi cho sĩ tử nương náu quần tụ. Đồng thời với việc xây Văn Thánh Miếu, cụ Phan và ông Nguyễn Thông cũng di dời hài cốt của Đại Sư Võ Trường Toản từ Gia Định về Ba Tri, thu hút sĩ phu ba tỉnh Trấn Biên, Gia Định, Định Tường (đã phải nhường cho Pháp) quần tụ về đây thành phong trào “tị địa,” mà đi đầu là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.
Như vậy, mục đích ban đầu của việc xây Văn Miếu không chỉ đơn thuần tôn vinh Nho học như các văn miếu trước đây mà còn là tinh thần phản kháng, sự chiến đấu, bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc trước áp lực của văn hóa Tây phương.

Văn bia được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong Văn Thánh Miếu Vĩnh Long do chính Đại Học Sĩ Phan Thanh Giản viết đã ghi rõ: “Năm Kỷ Mùi, Tự Đức thứ 12 (1859), Gia Định, Biên Hòa, Định Tường nối nhau thất thủ, sĩ phu ba tỉnh tị địa qua bản tỉnh (ý nói Vĩnh Long) và các hạt An Giang, Hà Tiên. Lúc bấy giờ binh mã bận rộn, sĩ tử mang bút tòng quân, việc học bỏ bê. Năm Tự Đức thứ 15 (1862), Đốc Học Nguyễn Thông họp các thân hào nhân sĩ bàn việc ấy, chọn đất ở địa phận thôn Long Hồ, cách tỉnh thành hơn 2 dặm về hướng Đông Nam, phía trước sông dài, phía sau là gò cao, hai bên vườn tược… Tháng Mười Một năm Tự Đức thứ 17 (Giáp Tý 1864) khởi công, Tháng Chín năm nay hoàn thành (năm Bính Dần 1866).”
Chỉ một năm sau, quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây có cả Vĩnh Long. Nguyễn Thông và các sĩ phu một lần nữa tị địa ra Bình Thuận. Phan Thanh Giản tự tử, trước khi mất ông di huấn lại cho Bá Hộ Trương Ngọc Lang (một hào phú ở địa phương đã phát tâm hiến đất và ủng hộ tài lực xây miếu) tìm mọi cách bảo vệ Văn Thánh Miếu.
Đúng như dự đoán, quân Pháp lấy cớ cần gỗ để xây dinh tỉnh trưởng, đòi tháo dỡ Văn Thánh Miếu. Nhân dân địa phương cử Bá Hộ Trương Ngọc Lang làm đại diện thương thuyết. Ý chí lòng dân, sự nhẫn nại khéo léo của Bá Hộ Lang đã chiến thắng. Vượt qua số phận nghiệt ngã của Gia Định, Trấn Biên, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được giữ gìn nguyên vẹn.
Không chỉ duy trì, người dân Vĩnh Long và Nam Kỳ nói chung đã nhiều lần chung sức trùng tu vào các năm 1874, 1903, 1914, 1933, 1963… định hình kiến trúc tráng lệ của Văn Thánh Miếu ngày nay.

Từ Thơ Lầu đến Văn Xương Các
Một cấu trúc và nội hàm thờ cúng khác biệt của Văn Thánh Miếu so với các văn miếu khác chính là Văn Xương Các – một ngôi nhà lầu theo cấu trúc nhà rường nằm phía trái trên đường vào miếu.
Nguyên buổi đầu ngôi miếu chỉ có cổng tam quan và trục thần đạo là khoảng đất rộng dẫn vào điện Đại Thành thờ Khổng Tử. Sinh thời cụ Phan Thanh Giản ao ước xây dựng một Thơ Lầu cho sĩ phu có nơi tụ hội luận bàn nhưng chưa kịp tiến hành thì thời cuộc đã đổi thay. Theo di nguyện ấy, Bá Hộ Trương Ngọc Lang đã quyên góp và xây dựng Thơ Lầu này hoàn thành năm 1874. Ông Trương Ngọc Lang dựng bia đặt tên là Tụy Văn Lâu (lầu nhóm họp giới văn nhân tài tử). Tụy Văn Lâu được trùng tu năm 1914 và khoảng năm 1920-1923, được đổi tên là Văn Xương Các (gác Văn Xương).
Tầng trên Văn Xương Các thờ Văn Xương Đế Quân – vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành. Tầng dưới, gian giữa là nơi văn nhân thi ngồi đàm đạo, phía sau là khám thờ chạm trổ tinh vi, trong đặt hai bài vị, có câu đối ca tụng hai kẻ sĩ đứng đầu đất Gia Định là Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản: “Hoàng phong ‘xử sĩ’ thanh cao lão/ Tự hiệu ‘thư sinh’ tiết liệt thần.” Câu đầu nói về cụ Võ Trường Toản, là một ông già thanh cao, ở ẩn dạy học, được Vua Gia Long cho là “Sùng Đức xử sĩ.” Câu sau nói về cụ Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ, Kinh Lược Sứ Nam Kỳ, mất thành Vĩnh Long, đã tự tử chết di chúc dặn chỉ trong tấm triện là “lão thư sinh” mà thôi.
Năm 1933, sau khi Vua Bảo Đại ban sắc tái phong cho cụ Phan là Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần thì ở tầng dưới Văn Xương Các đặt thêm biển đề “Phan Thanh Giản thần miếu” bằng chữ quốc ngữ. Kế bên Văn Xương Các còn có hai khẩu súng thần công, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860.
Tại Văn Xương Các, mỗi năm có hai lễ cúng tế: Lễ giỗ cụ Phan Thanh Giản vào ngày 4 và 5 Tháng Bảy Âm Lịch. Lễ truy điệu chung các quan quân cựu trào có công và bỏ mình vì tổ quốc vào ngày 12 và 13 Tháng Mười Âm Lịch.
Với kiến trúc và nội hàm thờ cúng tế tự của Văn Xương Các cho thấy Văn Thánh Miếu Vĩnh Long không đơn thuần là một Viện Khổng Tử khô cứng tôn thờ các Nho gia của Tàu, mà có kiến trúc riêng, không gian riêng, vinh danh các Nho gia, hiền sĩ người Việt ngay thời hiện đại ở tại địa phương. Có thể nói không ngoa là những nhân sĩ Vĩnh Long, Nam Kỳ thời ấy đã mượn cớ tôn vinh Nho học để vun đắp tinh thần yêu nước, bảo vệ, tôn vinh lịch sử, văn hóa, danh nhân Việt.

Trí thức tân học bảo tồn Nho học
Những đợt trùng tu, bồi đắp nhiều lần liên tiếp càng thể hiện rõ hơn ý chí đó của các thế hệ tiếp nối. Đặc biệt vào năm 1903, ông Tống Hữu Định (còn được gọi là cậu Phó Mười Hai – chức Phó Cai Tổng, thứ 12 trong gia đình) đứng ra vận động quyên góp trùng tu Văn Thánh Miếu. Theo nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ (1921-2000), cuộc vận động được giới điền chủ, trí thức tân học Nam Kỳ hưởng ứng và thu được số tiền khá lớn. Đợt này đã xây lại điện Đại Thành thành Khổng Thánh Miếu, hai bên có nhà Tả Vu, Hữu Vu thờ Khổng Tử và các học trò. Hoạt động này được báo Lục Tỉnh Tân Văn, Hội Minh Tân – một phong trào cách mạng xã hội ở Nam Kỳ có liên hệ mật thiết với phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và Duy Tân của Phan Châu Trinh – nhiệt tình hưởng ứng. Qua đây cũng thấy điều thú vị về sự phát triển khác biệt của lịch sử vùng miền của đất nước.
Thời điểm ấy, miền Bắc, miền Trung theo chế độ bảo hộ và tự trị, còn bị ràng trong khoa cử Hán học từ chương. Các nhà cách mạng ngoài ấy phải đấu tranh chống lại, mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục dạy chữ quốc ngữ. Ở Nam Kỳ, khoa cử Hán học đã chấm dứt từ năm 1875, chữ quốc ngữ và Pháp Ngữ đã phổ cập, phát triển đến mức những trí thức tân học một mặt khuyến khích cải biến xã hội, khơi cuộc kinh thương, một mặt quay về với Nho học, trùng tu Văn Thánh Miếu như một phương cách bảo tồn văn hóa bản địa.
Từ đó đến nay, kiến trúc Văn Thánh Miếu định hình. Mở đầu là cổng tam quan xây theo lối cổ lầu, có ba tầng mái. Sau cổng là trục thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút có cùng niên đại với ngôi Văn Miếu, giữa trục thần đạo có ba tấm bia đá. Tấm bia của cụ Phan Thanh Giản soạn trước khi tuẫn tiết, dựng năm 1911. Bia kỷ niệm ông Tống Hữu Định và giới trí thức trong cuộc trùng tu ngôi miếu lần 2 (1903). Bia dựng năm 1931, với di chúc của bà Trương Thị Loan (con gái của ông Trương Ngọc Lang), người đã hiến đất cho miếu. Cả hai bia sau do ông Nguyễn Liên Phong (tác giả Nam Kỳ Phong Tục Nhơn Vật Diễn Ca) viết vào thập niên đầu của thế kỷ 20.
Với quá trình hình thành và những nội dung thể hiện, Văn Thánh Miếu không phải là đền thờ những ông Tàu cũ kỹ hàng ngàn năm trước mà là trang sử sống thời cận đại của Nam Kỳ. (Tuyết Vân) [qd]


































































































