Bác Sĩ Đặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Đông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm Cứu và Đông Dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Đông Dược và muốn góp ý cho kho tàng Đông Dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 714-0564 office và (714) 553-6183 cell.
Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Nước mắt tự chảy ra không kiềm chế được, gọi là chảy nước mắt sống, thường kèm theo chứng mắt mờ, nhiều ghèn, nhiều nước mắt, sưng đỏ.
Theo Y Khoa Đông Phương “Gan khai khiếu tại mục.” Bất cứ sự mất quân bình nào của gan đều ảnh hưởng tới mắt, chẳng hạn gan hỏa vượng sinh ra mắt đỏ, mờ và khô v.v.
Gan là một trong năm tạng rất quan trọng và có những đặc tính: thuộc hành mộc, liên quan tới gân, giận dữ, khí sinh phát của mùa Xuân, thuộc phong, thích chua.
Gan chủ về sơ tiết, điều hòa dương khí của toàn thân. Khí của gan thường can trường, cấp bức, thích vươn chơi thoải mái, và ghét gò bó, uất trệ.
Nếu gan khí hữu dư làm cho con người hay sợ sệt, kinh khiếp. Nếu gan khí sơ tiết quá độ sẽ xuất hiện chứng đau mắt, choáng váng, mắt đỏ, chảy nước mắt. Gan khí uất ức, không sơ tiết được thành bệnh gan khí uất kết như chứng tức ngực, nghẹt thở rất khó chịu, tưởng bị tim hành phải đi cấp cứu bệnh viện, đau một hay cả hai bên giang sườn.
Tinh hoa của gan hiện ra ở móng tay, móng chân. Nếu gan bị bệnh trầm trọng có thể làm móng tay đen lại. Gân bám vào xương, gân phần nhiều có liên hệ với gan.
Thí dụ, người già động tác chậm chạp, vận động không nhanh nhẹn vì gan không dinh dưỡng đủ cho gân, gây ra co, dãn, duỗi của gân không đàn hồi bình thường, không những vậy còn làm cứng lại mà xuất hiện chứng co giật cấp tính hay vọp bẻ phần nhiều liên hệ tới gan.
Phần lớn khi gan mất quân bình liên quan tới khí không thông, gây ra gan hỏa vượng. Muốn gan hoạt động tốt cần phải ẩm thấp, nếu gan nóng, mất đi sự ẩm thấp cần thiết sẽ giảm thiểu chức năng điều hòa dương khí và gan có khuynh hướng tạo ra những tình trạng ngoài tầm kiểm soát như giận dữ bất thường. Do đó, khi gan hỏa bốc lên phần trên làm ảnh hưởng mắt mờ, ra nhiều nước mắt.
Chảy nước mắt sống do gan hỏa thượng nghịch
Chảy nước mắt, nhức đầu một bên như búa bổ, dễ giận, bồn chồn, đắng miệng, nước tiểu ít và đậm, táo bón, tức hai bên giang sườn, đầy hơi, xốn xang bao tử, nhưng ăn không được nhiều. Lưỡi đỏ và rêu lưỡi vàng. Mạch huyền.
Chủ trị: Thanh can hỏa và giải độc.
Bài thuốc
-Long đởm thảo 6 gram
-Hoàng cầm 9 gram
-Chi tử 6 gram
-Trạch tả 9 gram
-Xa tiền tử 9 gram
-Mộc thông 6 gram
-Sanh địa 12 gram
-Sài hồ 9 gram
-Đương quy 9 gram
-Kim ngân hoa 9 gram
-Bồ công anh 9 gram
-Phòng phong 6 gram
-Kinh giới 9 gram
-Cam thảo 3 gram
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Long đởm thảo: Thanh nhiệt gan và mật.
-Sài hồ: Giảm nhiệt kết trong gan và mật.
-Mộc thông, trạch tả, xa tiền tử: Lợi tiểu và tiêu viêm trong bàng quang.
-Sanh địa, đương quy: Bổ máu, giảm đau, tăng ẩm ướt.
-Chi tử, hoàng cầm: Tiêu độc và viêm.
-Kim ngân hoa, bồ công anh: Thanh nhiệt, giải độc.
-Phòng phong: Giải phong, ngưng chảy nước mắt.
-Cam thảo: Phối hợp các vị làm việc nhịp nhàng.
Chảy nước mắt sống do gan âm suy
Chảy nước mắt lại thêm chứng mắt khô. Trường hợp này gây ra do hai nguyên nhân là gan khí vượng, đồng thời gan âm suy. Tuy là hai, nhưng thật ra vì gan khí bị uất kết lâu ngày đưa tới can khí vượng và gan hỏa thượng nghịch, cộng với hư hỏa do gan âm suy, là ba nguyên nhân mới đúng.
Vì gan khí uất kết, gây ra gan nóng, nếu tình trạng này kéo dài làm tổn thương gan âm, gây gan dương thượng nghịch và gan âm suy.
Tuy nhiên, trong lâm sàng trường hợp này hiếm xảy ra và rất là phức tạp, vì có nhiều triệu chứng khác nhau cùng một lúc. Cho nên cả ba trường hợp đều quy về gan hỏa vượng gây giận dữ bất thường. Gan khí uất, không sơ tiết được thành bệnh gan khí uất kết, như chứng tức ngực, nghẹt thở rất khó chịu, tưởng bị tim hành phải đi cấp cứu bệnh viện, đau một hay cả hai bên giang sườn.
Vì đều quy về hỏa gây ra cho nên làm mắt đỏ và khô rất khó chịu và vì gan âm suy nên chảy nước mắt. Mạch trường, sác và huyền. Lưỡi khô và đỏ.
Bài thuốc
-Long đởm thảo 6 gram
-Hoàng cầm 9 gram
-Chi tử 6 gram
-Trạch tả 9 gram
-Xa tiền tử 9 gram
-Mộc thông 6 gram
-Sanh địa 12 gram
-Sài hồ 9 gram
-Mẫu đơn bì 9 gram
-Sơn thù du 9 gram
-Phục linh 9 gram
-Cam thảo 3 gram
-Tri mẫu 12 gram
-Sinh thạch cao 12 gram
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Long đởm thảo, mẫu đơn bì: Thanh nhiệt gan và mật.
-Sài hồ, sơn thù du: Giảm nhiệt kết trong gan và mật.
-Mộc thông, trạch tả, xa tiền tử, phục linh: Lợi tiểu và tiêu viêm trong bang quang.
-Sanh địa: Bổ máu, giảm đau, tăng ẩm ướt.
-Chi tử, hoàng cầm: Tiêu độc và viêm.
-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.
-Tri mẫu: Bổ thận và gan âm, thanh hư hỏa, ngưng chảy nước mắt.
-Sinh thạch cao: Tả hỏa. [qd]





















































































